Thường huấn
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống Lời khấn Canh Tân theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận
ĐAN SĨ XITÔ THÁNH GIA SỐNG LỜI KHẤN CANH TÂN
THEO GƯƠNG CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN
M. Thomas Aquino Nguyễn Văn Ân
LỜI MỞ
Trong cuộc sống thường ngày, con người luôn mang trong lòng một khát vọng: khát vọng được bay cao, vươn xa, và đi đến tận cùng của ước mơ, hoài bão, cũng như tương lai phía trước. Khát vọng ấy không chỉ dừng lại ở những thành công hay hạnh phúc chóng qua của trần thế, nhưng sâu xa hơn, đó là khao khát tìm về cùng Đấng đã dựng nên mình. Thánh Âutinh đã từng thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và lòng con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”
Muốn đạt đến cùng đích ấy, con người cần không ngừng đổi mới: đổi mới trong tư duy, trong cách nghĩ, và trong chính lối sống hằng ngày. Đó chính là hành trình để con người tìm lại vai trò, giá trị và ý nghĩa đích thực của đời mình, đồng thời đạt được những gì mình khát khao và ước mơ. Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Anh em hãy cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, và mặc lấy con người mới, là con người được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa” (Cl 3,9-10).
Cũng vậy, khi bước vào đan viện, chúng ta – những đan sĩ – luôn ước ao bước theo Đức Kitô và mỗi ngày trở nên giống Ngài hơn. Bước theo Đức Kitô, chúng ta đã từ bỏ gia đình, bạn bè, và những nâng đỡ trần gian, để hiến mình trong một cộng đoàn hoàn toàn sống theo tinh thần Phúc Âm. Với năm lời khấn: Khiết tịnh, Khó nghèo, Vâng phục, Canh tân và Bền đỗ, chúng ta quyết tâm “theo sát Đức Kitô hơn, để dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà mình yêu mến trên hết mọi sự, để một khi đã hiến thân cho việc tôn vinh Thiên Chúa, cho việc xây dựng Giáo Hội và cho phần rỗi thế giới, với một danh nghĩa mới mẻ và đặc biệt, đạt tới sự hoàn hảo của đức ái trong việc phụng sự Nước Chúa, và một khi đã trở nên dấu chỉ rực rỡ trong Giáo Hội, tiên báo vinh quang thiên quốc” (Giáo luật, số 573 triệt 1).
Thế nhưng, hành trình bước theo Đức Kitô trong đời dâng hiến là một lộ trình dài đầy thử thách. Đôi khi, chính những yếu tố vốn được xem là lợi ích cho đời sống đan tu lại tiềm ẩn nguy cơ cho các đan sĩ; điển hình là sự ổn định của nếp sống đan tu. Quả thật, sự ổn định ấy, một mặt, đem lại nhiều hoa trái thiêng liêng cho những tâm hồn nhiệt thành tìm kiếm Thiên Chúa trong thinh lặng và cô tịch; nhưng mặt khác, cũng có thể dẫn đến tâm trạng mệt mỏi, ngao ngán do nhịp sống đơn điệu kéo dài. Các linh phụ sa mạc đã gọi hiện tượng này là “con quỷ giờ ngọ” - một căn bệnh tinh thần nguy hại, có khả năng âm thầm bào mòn đời sống ơn gọi từ bên trong. Để vượt thắng và chữa lành căn bệnh ấy, cần đến sức mạnh của lời khấn Canh tân.
I. CANH TÂN - CON ĐƯỜNG TRỞ NÊN HOÀN THIỆN
Canh Tân là quá trình làm mới lại, làm cho đời sống trở nên tốt đẹp hơn, phù hợp hơn với những giá trị Tin Mừng. Canh tân đời sống không chỉ thay đổi bên ngoài mà còn là sự thay đổi bên trong, từ tâm hồn, suy nghĩ cho đến hành động, lời nói.
Đức cố Hồng y Phanxicô Xavier trong sách Đường Hy Vọng đã định nghĩa: “Canh tân không phải chỉ đổi nước mã bên ngoài, đổi một số nghi thức cho ngoạn mục, đổi tên các ủy ban cho kêu hơn, đạp đổ cơ cấu cũ, dựng nên một số tổ chúc mới, hội nghị, tuyên ngôn…nhưng Canh tân phải như tinh thần của thánh Phaolô: “Anh em hãy cởi bỏ kiểu sống xưa kia, con người cũ đã ra hư hốt buông theo những đam mê lầm lạc. Hãy để Thần Khí canh tân đổi mới anh em thấu tận trí khôn. Hãy mặc lấy con người mới đã được tạo dựng nên theo Thiên Chúa, trong công chính và thánh thiện bắt nguồn trong sự thật” (Ep 4, 22-24) (số 635).
Giờ đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu Canh tân theo hai chiều kích. Trước tiên, Canh tân, lời mời gọi dành cho các tín hữu; thứ đến, Canh tân, lời khấn dành riêng cho các đan sĩ, những môn đệ của thánh Biển Đức.
1. Canh tân đời sống - lời mời gọi dành cho các tín hữu
Bí tích Rửa tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cổng vào đời sống thiêng liêng và là cửa mở ra để lãnh nhận các bí tích khác (GLCG, số 1213).
Nhờ bí tích Rửa tội, tất cả mọi tội lỗi đều được tha: tội tổ tông và tất cả các tội cá nhân, cũng như tất cả các hình phạt do tội (GLCG, số 1263). Không dừng lại đó, bí tích Rửa tội còn làm cho người tân tòng trở nên một thụ tạo mới, thành nghĩa tử của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô và đồng thừa tự với Người, và thành đền thờ Chúa Thánh Thần (GLCG, số 1265).
Tuy nhiên, bí tích Rửa tội không làm mất đi bản tính tự nhiên nơi con người, một số hậu quả tạm thời của tội vẫn còn tồn tại nơi người chịu Phép Rửa, như đau khổ, bệnh tật, sự chết, hoặc những mỏng dòn trong cuộc sống như tính tình yếu đuối, v,v…, hoặc cả sự hướng chiều về tội mà truyền thống gọi là dục vọng hay nói một cách ẩn dụ là “bùi nhùi nhóm lửa của tội” (GLCG, số 1264).
Do đó, trong khi sống ân sủng của bí tích Rửa tội mang lại, người Kitô hữu cũng không ngừng được kêu gọi hoán cải và canh tân bản tính tự nhiên nơi con người của mình, hầu xứng đáng được gọi là con Thiên Chúa với toàn thể con người của mình.
Lời Chúa luôn mời gọi canh tân, không chỉ là sự đổi mới bên ngoài (cách ăn mặc, chổ ở…), nhưng là sự biến đổi tận căn: từ tâm trí, con tim cho đến toàn thể đời sống.
Trong Cựu Ước, ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bằng, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ” (Is 1,16-17).
Ngôn sứ Edekien cũng tha thiết: “Hãy trở lại, hãy từ bỏ mọi tội phản nghịch của các ngươi, chẳng còn chướng ngại nào làm các người phạm tội nữa. Hãy quẳng khỏi các ngươi mọi tội phản nghịch các ngươi đã phạm. Hãy tạo cho mình một trái tim mới và một thần khí mới. Hỡi nhà Israen, tại sao các ngươi lại muốn chết? Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống” (Ed 18,30b-32).
Sang Tân Ước, khởi đầu sứ mạng công khai, Đức Giêsu công bố: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15) và trong bài giảng trên núi, Ngài mời gọi các môn đệ không ngừng canh tân đời sống để nên “hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện (Mt 5,48).
Thánh Phaolô cũng nhiều lần khuyên các tín hữu canh tân đời sống để nên giống Đức Kitô hơn:
“Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhân ra đâu là ý thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).
Hay “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện…Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 4,22-5,2).
Hoán cải và canh tân đời sống là căn tính thường xuyên của Kitô hữu. Để mỗi ngày một trở nên giống Chúa Kitô, người tín hữu phải “cởi bỏ con người cũ” – nghĩa là từ bỏ tội lỗi và tính hư nết xấu – để “mặc lấy con người mới”, tức là mặc lấy chính Đức Kitô và tâm tình của Người: lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, bao dung và tha thứ.
Canh tân như thế không chỉ là một sự sửa đổi bên ngoài, nhưng là một tiến trình biến đổi toàn diện: từ tư tưởng, phán đoán, tình cảm, con tim, động lực sống đến cách hành xử. Khi ấy, Kitô hữu mới thực sự trở nên con người mới trong Đức Kitô, sống đời sống mới theo khuôn mẫu của Người.
2. Canh tân đời sống - lời khấn dành riêng cho các đan sĩ
Như ở trên chúng ta đã nói, Canh tân đời sống là một lời mời gọi dành chung cho các Kitô hữu. Thế nhưng, khi tổ chức đời sống đan tu cho các đan sĩ, thánh phụ Biển Đức đã lấy điều ấy làm thành một lời khấn, nghĩa là một nghĩa vụ bắt buộc dành cho các đan sĩ.
Mở đầu đoạn luật 58 nói về cách thức nhận một anh em muốn gia nhập đan viện, thánh Biển Đức viết: “Ai mới đến xin tu, không nên dễ dàng nhận ngay; nhưng theo lời thánh Tông đồ: Hãy nghiệm xét các thần khí có phải bởi Thiên Chúa hay không?”
Sau khi trình bày cách thức thử thách và huấn luyện tu sinh, thánh Biển Đức nói về ba lời khấn đan tu như một động tác quyết định gia nhập cộng đoàn: “Người được nhập cộng đoàn, hãy hứa: bền đỗ, canh tân và vâng phục trước nhan Thiên Chúa và các thánh của Ngài trong nhà nguyện trước mặt mọi người”.
Như vậy, Canh tân trở thành một trong ba lời khấn dành cho các đan sĩ sống theo tinh thần của thánh Biển Đức.
Vậy, lời khấn Canh tân là gì? Đâu là những đòi buộc của lời khấn danh cho đan sĩ?
2.1 Định nghĩa lời khấn canh tân
Lời khấn Canh tân và lời khấn Vĩnh cư là hai lời khấn mang tính “đặc sản” của dòng Biển đức và dòng Xitô. Cả hai được coi như là một nét độc đáo của pháp chế Biển Đức đối với phong trào đan tu.
Theo nguyên ngữ, lời khấn Canh tân - Conversio Morum Suorum - được hiểu là tu sữa nếp sống đời tu theo những nguyên tắc và truyền thống đan tu như đã được trình bày theo Tu luật.
Cha tổ phụ Biển Đức Thuận định nghĩa: “Lời khấn Canh tân là lời khấn đòi hỏi người đan sĩ cố gắng diệt trừ các nết xấu, thủ đắc các nhân đức, không phải bằng bất cứ cách nào nhưng là bằng việc tuân giữ Tu luật và Hiến pháp” (Dn, số 84).
Viện phụ Augustin Roberts, OCSO, viết: “Lời khấn Canh Tân là một lời khấn dùng đức tin, đức ái và niềm hy vọng đối thần, mà thể chế đan tu chuyển tải tới các đan sĩ nam nữ, để họ ngày càng nên giống Chúa Kitô”. (Đặt Nền Tảng Trên Đức Kitô, tr 164)
Ngài còn nói thêm:
“Nhờ lời khấn canh tân, mà mục đích chính - thực ra cũng duy chỉ có một mục đích - của đời sống đan tu được làm sáng tỏ. Đó là sáp nhập vào trong đời sống của Chúa Kitô một cách trọn vẹn, và để quyền năng Thánh Thần của Người chi phối sự hiện hữu của con người... Nhờ đó, chúng ta giải thoát mình khỏi tinh thần của thế gian bằng cách từ bỏ lối sống của thế gian và chúng ta mặc lấy Chúa Kitô khi chúng ta tiếp nhận một lối sống mới, lối sống của chính Chúa Kitô mà Người đã đề ra cho các môn đệ của Người khi mời gọi họ theo Người” (Đặt Nền Tảng Trên Đức Kitô, tr 166-167).
Như vậy, với lời khấn Canh tân, thánh phụ Biển Đức ước mong các đan sĩ vượt qua tính ươn ái trễ tràng, không ngừng canh tân liên lỉ trên nhiều mức độ khác nhau của đời sống con người, khởi đi từ sự theo đuổi cá nhân trong việc bước theo Chúa Kitô để mỗi ngày trở nên giống Người hơn.
Vậy đâu là những yêu sách mà lời khấn này đặt ra cho các đan sĩ?
2.2 Nội dung của lời khấn canh tân
Nếu lời khấn Vâng phục đòi buộc các đan sĩ theo gương Đức Kitô vâng phục cho đến chết, và buộc họ quyết chí tuân phục các bề trên hợp pháp khi các ngài chiếu theo luật dòng mà truyền dạy; nếu lời khấn Vĩnh cư đòi buộc các đan sĩ kiên vững cho đến chết trong chính đan viện mà mình đã tuyên khấn; thì: “lời khấn Canh tân buộc các đan sĩ cố gắng mỗi ngày tiến tới và dùng mọi phương thế: Tu luật và Hiến pháp đã đề ra để đạt tới đức ái hoàn hảo” (HP, số 106).
Như vậy, dười cái nhìn tích cực, lời khấn Canh tân buộc các đan sĩ phải dưỡng nuôi quyết chí tiến tới không ngừng trong ơn gọi. Lời khấn này không buộc phải nên trọn lành ngay một lúc, nhưng buộc phấn đấu vươn lên đời sống thánh thiện không ngừng trong ơn gọi. Cụ thể, người đan sĩ phải ân cần sử dụng những phương thế Tu hội đã cung ứng: Tu luật, Hiến pháp, lời khấn, các nhiệm tích, cầu nguyện, hy sinh… (Ban huấn luyện Hội dòng Xitô Thánh gia, Đời thánh hiến và lời khấn dòng, tr.131).
Ngược lại, dười cái nhìn tiêu cực, chúng ta sẽ lỗi lời khấn khi:
Trong ý định: quyết định không tiến tới trong bậc trọn lành với ý thức tự do đầy đủ.
Trong hành động: Sao nhãng không sử dụng các phương thế để đi đến trọn lành.
- Không giữ luật, Hiến pháp, Thói lệ, việc bổn phận.
- Lơ là việc lãnh nhận các nhiệm tích: cáo giải, thánh lễ…
- Coi thường lời khấn, luật thinh lặng, nội vi, việc đọc sách, nguyện ngắm…
- Phạm tội trọng mà không xưng không chừa, không tránh dịp…
- Lỗi luật trở thành thói quen, gây gương mù gương xấu, ươn ái.
- Lạm dụng nhiệm vụ sống buông thả, giao du không cần thiết, phim ảnh, thuốc, rượu… (Ban huấn luyện Hội dòng Xitô Thánh gia, Đời thánh hiến và lời khấn dòng, tr.134)
Tóm lại, lời khấn Canh tân là một lời khấn đặc biệt do thánh Biển Đức thiết lập cho các môn sinh của ngài. Lời khấn này luôn được coi như một tiêu chuẩn sống của các đan sĩ: cam kết đổi mới và cải thiện đời sống của mình để phù hợp hơn với tinh thần Tin Mừng và sứ mạng của Giáo hội. Đây không chỉ là sự đổi mới hình thức bên ngoài mà còn là sự biến đổi tận căn trong tâm hồn, hướng đến sự hoàn thiện và sống trọn vẹn ơn gọi.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải đan sĩ nào cũng thực hiện được những đòi hỏi ấy. Dù đã sống trong đan viện lâu năm, nhưng nhiều người vẫn chưa thực sự sống lời khấn Canh Tân, nghĩa là chưa đổi mới. Do đó, lời mời gọi “trở về nguồn”, tìm hiểu xâu xa về Đấng sáng lập và đặc sủng mà ngài nhận được, là điều cần thiết để các đan sĩ sống tốt hơn các lời khấn của mình.
II. CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN - TẤM GƯƠNG SỐNG LỜI KHẤN CANH TÂN
“Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hữu nhật tân” là một lời mời gọi, một sự nhắc nhở cho chúng ta: nếu hôm nay muốn đổi mới, thì mỗi ngày phải đổi mới, và không ngừng tiếp tục đổi mới.
Đọc tiểu sử và nghiền ngẫm những giáo huấn cha Tổ Phụ để lại, chúng ta nhận thấy ngài là con người chan chứa tinh thần canh tân. Thật vậy, mục tiêu suốt cả đời ngài là “trở nên thầy dòng thật, thầy dòng thánh”. Để đạt được mục tiêu ấy, ngài không ngừng canh tân và đổi mới mỗi ngày, đặc biệt từ khi khởi sự lập dòng.
Giờ đây, con xin mời cộng đoàn cùng chiêm ngắm tấm gương sống Lời Khấn Canh Tân của Cha Tổ Phụ kính yêu qua năm phương diện căn bản của đời sống đan tu, cũng là những điều ngài đã thực hiện khi sống Lời Khấn Canh Tân:
1. Xa lánh thế gian
Xa lánh thế gian là bước đầu tiên trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa của người đan sĩ. Đó là cuộc ra đi hướng về hoang địa, núi rừng, những nơi xa lánh sự ồn ào náo nhiệt của trần thế, để được sống trọn vẹn trong thinh lặng và cô tịch. Chính nơi đó trở thành mái nhà và cũng là trường học giúp đan sĩ khám phá sự nhiệm mầu của Thiên Chúa và phụng sự Ngài.
Cha Tổ Phụ kính yêu của chúng ta, khi được Đức cha Allys Lý cho phép lập dòng, đã cùng người môn đệ đầu tiên – thầy Tađêô Chánh – thâu xếp hành trang và lên núi Phước Sơn ngày 14/8/1918, khai mở một đời sống mới. Sau bao năm tháng tìm kiếm và chờ đợi, cha Biển Đức Thuận đã tìm được một lối sống đáp ứng trọn vẹn khát vọng của ngài. Giữa núi rừng tĩnh lặng Phước Sơn, cha cảm nếm được bình an của Chúa. Từ nay, ngài không còn bị phân tâm bởi những bận rộn của một giáo sư hay một thừa sai, nhưng thực sự trở thành đan sĩ, sống an hòa và thanh thản trong đan viện.
Trong một lá thư gửi bà kế mẫu, ngài viết:
“Con tưởng con không thể sống ngoài thế gian được nữa. Mấy ngài vừa mới ở ngoài thế gian đó, con lấy làm cực khổ hơn ăn chay trót mùa Chay – cả chay dòng lẫn chay Hội Thánh. Con gặp cha nào cũng tiếp đãi con tử tế và thương mến con lắm. Mặc dầu, mẹ tính sao: mẹ bỏ con cá vào bình mứt thì nó thích ở đó hay ở trong bình nước lạnh hơn! Phần con, con thích nhà dòng của con hơn, con tiếc vì phải bỏ nhà dòng mà ra ngoài” (Dn, số 50).
Cảm nghiệm được hạnh phúc của đời đan tu, Cha Tổ Phụ cũng khao khát cho các đan sĩ của mình được cảm nếm điều ấy. Ngài huấn dụ:
“Chúng ta nên nhớ: mọi sự thế gian đều vô lối, chóng qua cả, trừ sự kính mến Chúa và phụng sự Người – điều đáng cho chúng ta chăm lo mà thôi. Vậy, cám ơn Chúa đã kêu gọi chúng ta vào dòng, để lo một việc cao trọng ấy. Chúng ta phải sống kết hiệp với Chúa. Mọi việc chúng ta làm đều là vì Chúa, làm cho Chúa, chi cũng làm cho Chúa hết. Như vậy, chúng ta mới nếm được sự bình an của Chúa” (Dn, số 107).
Trong một huấn từ khác, ngài mô tả hai loại đan sĩ để giúp anh em phân định lòng mình gắn bó với đời đan tu đến mức nào. Loại thứ nhất là những đan sĩ đích thực, cảm thấy khổ sở khi phải đi ra ngoài và chỉ mong chóng trở về “nhà Chúa” đầy ân phúc – như chim bồ câu của ông Nôê, chỉ gặp xác chết hôi thối nên vội quay về tàu. Ngược lại, loại thứ hai lại thấy vui sướng khi được ở ngoài đan viện lâu chừng nào càng tốt. Đó là dấu chỉ không lành mạnh, vì họ không mang tinh thần của thầy dòng, nhưng giống như con quạ vừa ra khỏi tàu liền vui thú ngấu nghiến xác chết thối rữa (x. Dn, số 113).
2. Đời sống cầu nguyện
Đan sĩ là người khát khao tìm kiếm Thiên Chúa. Con đường để gặp gỡ Ngài chính là cầu nguyện. Cầu nguyện được ví như hơi thở của linh hồn, là điều kiện cần thiết để phát triển đời sống thiêng liêng (Thói lệ, số 191). Nhờ cầu nguyện, đan sĩ bước vào mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, thánh Biển Đức đã truyền dạy trong Tu luật: đan sĩ phải là con người “siêng năng cầu nguyện” (TL, 4,56).
Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận là mẫu gương sáng ngời của đời sống cầu nguyện. Khi còn ở chủng viện, ngài đã rất chuyên chăm cầu nguyện. Trong thư gửi song thân ngày 18/10/1907, ngài viết:
“Hằng ngày, con cứ làm chút việc bình thường của con một cách thanh thản và bằng an như cha mẹ đó, nghĩa là con liệu đi nghỉ sớm, độ 9 rưỡi, 10 giờ, có khi đến 11 giờ. Rồi mai sớm gà gáy lần thứ nhất, độ 3 rưỡi, tư giờ, con dậy nguyện gẫm, nghĩa là cầu xin với Chúa, nói chuyện với Ngài. 6 giờ kém 15, con đi dâng lễ, cám ơn, đọc kinh, xem sách thiêng liêng… Cơm trưa rồi, con vào nhà thờ chầu Mình Thánh nói chuyện với Chúa, đó là lúc con nói chuyện với Ngài về cha mẹ … Cơm tối xong, con lại xem sách, đọc kinh rồi đi nghỉ. Đó là hết một ngày cuộc đời của con” (Dn, số 1).
Khi đã trở thành đan sĩ, cha Tổ Phụ càng chuyên chăm cầu nguyện hơn nữa, tuân giữ tinh thần Tu luật thánh Biển Đức. Trong một lá thư gửi bà kế mẫu, ngài ghi rõ thời khóa:
“Đây là thời khắc thường nhật: Đêm 2 giờ dậy; 2 giờ đến 4 giờ đọc kinh nguyện gẫm, xem lễ, bốn giờ cám ơn, rảnh: 4 giờ rưỡi đọc kinh; 5 giờ rưỡi làm việc…” (Dn, số 37).
Trong các huấn từ, cha Tổ Phụ nhiều lần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cầu nguyện:
“Chúng ta phải lo sống kết hiệp với Chúa, mọi việc chúng ta làm vì Chúa, làm cho Chúa chi cũng làm cho Chúa hết. Như vậy, chúng ta mới nếm được sự bình an của Chúa…” (Dn, số 107).
Và ở nơi khác, ngài dạy:
“Việc bổn phân chúng ta là cầu nguyện và kết hợp với Chúa. Đó là việc riêng của chúng ta. Cầu nguyện thì phải tin cậy Chúa, vì Chúa dạy chúng ta phải cầu nguyện, chúng ta phải siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Nhà này mà không cầu nguyện thì hóa ra một nhà nông phu. Cầu nguyện là chính việc chúng ta. Thầy dòng phải là con người cầu nguyện. Cầu nguyện là thực sự gặp Chúa cách thân tình như giữa Cha và con. Vậy chúng ta phải cầu nguyện, vì có lời Chúa phán: xin thì được, tìm sẽ gặp, gõ cửa sẽ mở cho” (Dn, số 118).
3. Khổ chế
Khổ chế là con đường từ bỏ bản thân để bước theo Đức Kitô. Nhờ khổ chế, đan sĩ chế ngự khuynh hướng tự nhiên vốn bị tổn thương vì tội lỗi, đồng thời tiến nhanh hơn trên đường thánh thiện. Các việc hãm mình giúp đan sĩ tìm lại quân bình, củng cố đức ái, trung thành với ơn gọi và bước theo Đức Kitô trên đường thập giá.
Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã thực hành khổ chế một cách triệt để. Một năm trước khi lập dòng, ngài đã sống hãm mình rất nghiêm nhặt:
“Nhiều bữa mai và tối, ngài chỉ dùng một chén cà phê, một trái chuối, hay một vài lát mứt…Bữa trưa, ngài dùng ít và mau lắm. Mùa chay thì ngài giữ trọn 40 ngày rất nhặt song cứ làm việc hăng hái in thường. Ngài chỉ dùng rau, măng, nhiều bữa chỉ dùng cơm không” (Hạnh tích, chương IX, tr. 83).
Sau khi lập dòng, cha Tổ Phụ còn khổ chế gắt gao hơn. Trong thư gửi bà kế mẫu, ngài kể:
“Còn đồ ăn thì chúng con ăn chi? Chúng con không ăn mì, không uống rượu, không dùng dầu, không bơ, không sữa, mỡ đường cũng không. Tắt rằng, những món cần kíp cho bên Tây, thì vô vị cho chúng con. Không bao giờ chúng con dùng thịt, cá tươi cũng không. Song cơm thì lại ăn như ý, ăn với muối trắng, muối mè, cá mắm với trứng, đôi khi với bánh sữa nếu có. Lại cũng ăn khoai sắn, đậu phụng, chuối, mít, cùng muôn vàn thứ khác ngon vô cùng, mẹ chưa hề được nếm” (Dn, số 37).
Đặc biệt, cha Tổ Phụ chọn cho mình một hình thức khổ chế khiêm hạ: tự nguyện chùi rửa nhà vệ sinh cho cộng đoàn. Đây là công việc nặng nhọc và hèn kém nhất, nhưng ngài vẫn âm thầm đảm nhận cho đến cuối đời, chỉ khi sức khỏe không còn cho phép mới ngừng lại.
Viện phụ Emmanuel Chu Kim Tuyến nhận xét: tất cả những khổ chế và nhân đức cha Tổ Phụ đạt được đều nhờ một ý chí mạnh mẽ. Ngài muốn đi đến cùng trong việc dấn thân theo Chúa. Nhờ khổ chế, ngài đã rèn luyện và khắc phục những khuyết điểm tự nhiên, nhất là tính nóng giận, tính hay thay đổi và thói xét đoán người khác theo tiêu chuẩn riêng (HT, tr. 80).
4. Đời sống chung
Đời sống huynh đệ trong đan viện là dấu chỉ sống động của mầu nhiệm Giáo Hội, biểu hiện tinh thần hiệp nhất nơi mọi Kitô hữu, và là nền tảng của sự hiệp thông.
Khi viết thư xin phép lập dòng, cha Tổ Phụ bày tỏ ước nguyện thành lập một đan viện, nơi các đan sĩ cùng sống đời cộng đoàn, tuân giữ một tu luật và vâng phục một viện phụ (x. Dn, thư 2 gửi Đức cha Allys). Sau này, trong bản Hiến pháp, ngài nêu rõ mục đích của dòng:
“Làm thành một tu hội các đan sĩ, chuyên lo cứu giúp những người chưa nhận biết Chúa bằng sự cầu nguyện và hãm mình” (Dn, số 79).
Cha Tổ Phụ luôn quan tâm xây dựng tình huynh đệ. Trong các bài giáo huấn, ngài dạy:
“Chúng ta hãy xét mình coi: trong ngày hôm nay, tôi có làm chi cho bề trên và anh em tôi được vui chăng? Coi ngày hôm nay, tôi có cố gắng làm việc chi cho bề trên và anh em tôi bớt sự khó nhọc không? Nhưng, giúp đỡ anh em bằng sự cầu nguyện thì làm được luôn… Chúng ta là anh em với nhau, đi đàng nhân đức như nhau, cho nên phải thương yêu nhau, chẳng những anh em ở một nhà với chúng ta đã rồi, lại phải thương hết mọi người. Mà muốn cho được thương yêu anh em, phải ra khỏi mình là bỏ mình đi, thì mới thương yêu anh em được. Chúng ta hay yêu mình quá, cả ngày chỉ nghĩ đến mình, còn anh em thì không được nghĩ tới. Mình đau chỉ một chút, lấy làm cả thể lắm; còn anh em đau, mình không lấy làm chi cả, vì chúng ta yêu mình quá. Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo. Nhân đức yêu thương, là khi thấy kẻ khác buồn thì mình cũng buồn, như thể là chính sự buồn của mình. Khi thấy kẻ khác vui thì mình cũng vui, như thể chính sự vui của mình vậy. Cái nhân đức ấy, là nhân đức đại độ, là nhân đức thật. Những kẻ ấy là người đại độ, không phải là tiểu nhân” (Dn, số 112).
Ngài còn căn dặn:
“Hãy yêu thương nhau, nâng đỡ nhau, gánh vác cho nhau, nhẫn nhục với nhau khi có lỗi, lấy tình yêu mà che đậy khuyết điểm cho nhau, đừng xét nét anh em khi không phải phận sự mình, vì đã có bề trên lo liệu” (Dn, số 125).
5. Công việc tay chân
Lao động tay chân là phần thiết yếu của đời sống đan tu, luôn đi đôi với cầu nguyện, diễn tả trọn vẹn châm ngôn: “Ora et labora – Cầu nguyện và lao động”. Qua lao động, đan sĩ cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu chuộc, đồng thời thực thi đức khó nghèo và phục vụ huynh đệ (x. Hp, số 131; Tuyên ngôn, số 11).
Thánh Biển Đức dạy trong Tu luật: “Ở nhưng là thù địch các linh hồn, thế nên anh em phải có giờ làm việc chân tay, có giờ đọc sách…chỉ khi nào ta sống bằng thành quả lao động của mình như các tổ phụ và như các tông đồ, khi ấy chúng ta mới thật là đan sĩ” (Tl, 48).
Cha Tổ Phụ cũng là người yêu lao động. Khi còn là giáo sư chủng viện, ngoài giờ dạy, ngài còn tận dụng thời gian để giúp đỡ bệnh nhân:
“Khi các chú làm việc thủ công thì con đi bào chế thuốc cho người liệt. Mỗi ngày con làm ‘bác sĩ’ chừng nửa giờ, tùy theo bệnh nhân” (Dn, số 1).
Khi làm cha xứ, ngài vẫn không ngại lao động chân tay:
“Kính thưa cha mẹ yêu dấu. Con vừa đi rú làm gỗ, phải đi bộ 20 cây số, cả đi lẫn về là 40 cây số! Một chuyến đi dạo cũng khá! Tuy có chút thương hại cho cái chân con bị loài đỉa cạn cắn nát cả…” (Dn, số 14).
Khi thành lập nhà dòng, cha Tổ Phụ càng hăng say lao động: chung tay cùng anh em khai khẩn đất đai, dựng xây nhà cửa, trồng trọt để có lương thực. Ngài viết cho bà kế mẫu:
“…Nhà dòng nhỏ bé của chúng con luôn ở trong sự bình an vui vẻ. Tuy gặp khó nhọc, nhưng chẳng đáng kể gì. Hôm nay chúng con đang trồng môn – một loại khoai ngon, đứng giữa khoai tây và khoai lang. Ít ngày nữa sẽ trồng sắn. Chúng con cũng có nhiều thợ đang làm nhà thờ, hy vọng hai tháng nữa sẽ hoàn thành…” (Dn, số 40).
Dù lao động hăng say, cha Tổ Phụ vẫn giữ quân bình. Ngài cảnh giác anh em:
“Chúng ta hãy nhớ, chớ khá quên, là chớ có mê làm việc quá. Chúng ta đã bỏ mọi sự thế gian mà vào đây, cho được tìm Chúa, chớ có điên cuồng và dại dột, chớ có mê làm việc quá lắm. Đến giờ phải làm thì làm, làm cho siêng, làm cho tử tế, rồi thì thôi … Vậy, chớ có mê làm việc quá. Đó là việc thiệt hại cả thể, đáng cho chúng ta lấy làm buồn hơn cả. Chúng ta chỉ lo một điều là kính mến Chúa, và ra sức làm đẹp lòng Chúa mà thôi” (Dn, số 129).
Sống trong đan viện, xa vắng những ồn ào thế gian, Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã không ngừng đáp lại lời mời gọi canh tân, để trở nên con người gắn bó mật thiết với Chúa, trở nên “Giêsu, Giêsu thay thảy”. Chính đó là hạnh phúc duy nhất của ngài, và ngài cũng muốn thông chia hạnh phúc ấy cho hết thảy mọi người, đặc biệt cho những ai bước vào đời sống đan tu.
Là con cái của ngài, chúng ta được mời gọi noi gương cha Tổ Phụ trong việc sống sung mãn Lời Khấn Canh Tân, để thực sự trở thành “thầy dòng thật, thầy dòng thánh”.
III. ĐAN SĨ XITÔ SỐNG LỜI KHẤN CANH TÂN THEO GƯƠNG CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN
Trong Tu luật, thánh Biển Đức đã chỉ cho chúng ta một định hướng nền tảng: đời sống đan tu phải luôn được khơi mới, phải luôn như Mùa Chay — một mùa của sám hối, của đổi mới, của quyết tâm trở về. Ngài viết: “Đời đan sĩ phải luôn như Mùa Chay. Mỗi ngày, trong giờ cầu nguyện, hãy khóc than, xưng thú mọi lỗi lầm quá khứ và sửa chữa chúng” (TL 4, 57-58).
Cũng cùng một tinh thần ấy, Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận luôn tha thiết mời gọi con cái mình bước vào hành trình canh tân: “Chúng ta hãy bắt đầu lại, bắt đầu một cách vui mừng, mạnh mẽ: Ecce nunc coepi – Này đây tôi bắt đầu. Chừa bỏ tội lỗi và thói hư tật xấu, để vui mừng đón Chúa Giêsu” (Dn, 146). Đây không chỉ là một khẩu hiệu thiêng liêng, nhưng là một linh đạo cụ thể, một thái độ sống hằng ngày của người đan sĩ Xitô.
Thực tế, không phải lúc nào người đan sĩ cũng sống trọn vẹn lời khấn Canh tân. Có những lúc vì yếu đuối, vì thử thách, hay vì thói quen lâu ngày, chúng ta rơi vào tình trạng khô khan, nguội lạnh, lặp lại và dậm chân tại chỗ. Chính vì thế, lời mời gọi “hãy bắt đầu lại” mang một giá trị nền tảng, nhắc nhở ta rằng con đường canh tân không bao giờ khép lại. Bắt đầu lại không có nghĩa là hủy bỏ quá khứ, nhưng là biến đổi và thanh luyện quá khứ bằng một hiện tại đầy ơn Chúa.
Trong tinh thần đó, con xin được chia sẻ hai định hướng cụ thể để sống lời khấn Canh tân theo gương Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận:
1. Tái khám phá tình yêu Thiên Chúa
Ơn gọi đan tu, tự bản chất, chính là một lời đáp trả trước Tình yêu Thiên Chúa. Nếu không đặt nền tảng trên tình yêu, thì mọi kỷ luật, mọi tu luật, mọi lời khấn chỉ trở thành gánh nặng, thậm chí là xiềng xích. Chỉ có tình yêu mới làm cho đời đan sĩ trở nên nhẹ nhàng, tự do và tràn đầy ý nghĩa.
Thế nhưng, thời gian và những thử thách có thể làm cho ngọn lửa tình yêu ấy nhạt phai. Người ta thường nói: “Lửa thử vàng, thời gian thử tình yêu.” Đúng vậy, năm tháng có thể biến những nhiệt huyết ban đầu thành sự chai lì, khép kín. Thật nguy hiểm khi đời đan sĩ trở thành một thói quen đều đặn, một cỗ máy sống trong giờ giấc và quy định, nhưng lại thiếu sức sống của tình yêu.
Chúng ta phải làm gì khi tình yêu Thiên Chúa trong đời dâng hiến trở nên nguội lạnh? Thánh Gioan tông đồ đã chỉ cho chúng ta một câu trả lời: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1).
Sống canh tân chính là trở về nguồn mạch tình yêu ấy, để khơi dậy và làm mới lại lửa tình yêu dành cho Chúa. Tình yêu Thiên Chúa thì luôn mới, luôn sống động, không bao giờ cũ. Nhưng chính chúng ta lại thường làm cho tình yêu ấy trở nên cũ kỹ, nhàm chán, qua sự hời hợt, lơ là, thiếu nhiệt tâm trong đời sống tu trì.
Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông huấn Christus Vivit, đã đưa ra một hình ảnh rất gần gũi: “Hãy giữ kết nối với Chúa, như con lo không để mất kết nối internet” (x. số 158). Người trẻ ngày nay rất sợ mất mạng, mất sóng, vì cảm thấy mình bị tách biệt. Cũng thế, đời đan sĩ chỉ thực sự sống khi được kết nối với Chúa Giêsu. Không có Chúa, đời sống tu trì sẽ trở nên khô khan, hình thức, và cuối cùng chỉ là vỏ rỗng.
Đối với người đan sĩ, việc giữ “kết nối” với Chúa được thực hiện một cách cụ thể qua các bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể. Bí tích Hòa giải giúp chúng ta không ngừng trải nghiệm tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Mỗi lần quỳ gối trước tòa giải tội, là mỗi lần ta được tái sinh, được bắt đầu lại, và được giải thoát khỏi những ràng buộc tội lỗi. Bí tích Thánh Thể lại là nguồn lương thực hằng ngày, nuôi dưỡng chúng ta trên con đường canh tân, để chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô – Đấng là lương thực, là nguồn sống, là sức mạnh cho đan sĩ.
Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận từng nhấn mạnh: “Con hãy siêng năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, để Người đổi mới tâm hồn con, đốt cháy lòng mến trong con, và làm cho con trở nên thánh thiện như Người mong ước” (Dn, 178).
2. Một con tim khao khát vươn lên
Nếu tình yêu là nền tảng, thì khát vọng vươn lên là động lực không ngừng thúc đẩy đời đan sĩ. Quy luật của sự sống là: “Sống là tiến.” Hạt giống được gieo xuống không thể cứ nằm yên trong lòng đất, mà phải đâm chồi, trổ hoa, kết trái. Nếu không, nó sẽ thối rữa.
Đời sống đan sĩ cũng vậy. Ơn gọi không chỉ là “được chọn”, mà là “không ngừng lớn lên trong sự thánh thiện.” Với năm lời khấn, đặc biệt là lời khấn Canh tân, đan sĩ không thể hài lòng với hiện tại, nhưng luôn khao khát biến đổi để trở nên giống Chúa Kitô – mẫu gương tuyệt đối của sự trọn lành.
Để có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Các đan sĩ phải không ngừng tuân giữ Tu luật, Hiến pháp và Thói lệ của Hội dòng.
Thật vậy, chính Tu luật, Hiến pháp và Thói lệ đã kiến tạo khung cảnh đan tu, và chứa đựng tất cả những gì cần thiết cho hành trình nên thánh. Như lời chứng của viện phụ Columba Marmion:
“Chính khi tự hiến mình cho Thiên Chúa nhờ những ràng buộc của Tu luật, mà biết bao đan sĩ đã được thánh hóa và đạt tới mức độ hoàn hảo cao nhất, tới tuyệt đỉnh của sự thánh thiện.”
Mặt khác, Tu luật và Hiến pháp Hội dòng chính là Thánh ý Thiên Chúa. Bởi thế, Cha Tổ phụ Biển Đức Thuận đã luôn sống và thường xuyên nhắc nhở con cái rằng sự thánh thiện hệ tại ở việc tuân giữ Luật dòng:
“Cha khuyên nhủ chúng con hay nhớ: Đàng nhân đức là tuân theo Thánh ý Chúa, mà theo Thánh ý Chúa là giữ luật dòng cho trọn. Cha còn nói một lần nữa: chúng con muốn nên thánh, thì hãy giữ luật dòng” (Dn, số 150).
Ngài còn nhấn mạnh:
“Giữ cho trọn vẹn vì lòng mến Chúa. Không phải vì sợ mắt bề trên, hay con mắt anh em. Cũng đừng bao giờ cho người ta khen, như vậy là hèn, là làm thuê làm mướn lấy công, là kẻ tôi đòi… Hãy giữ luật vì lòng mến Chúa, vì muốn đẹp lòng Chúa mình, muốn cho cha mình vui thấy con cái có lòng mến thật. Như vậy, mới gọi là giữ luật dòng cho được nên thánh” (Dn, số 137).
Như thế, sống lời khấn Canh Tân qua việc tuân giữ Luật dòng chính là con đường tiến tới lý tưởng trọn lành. Nhưng Cha Tổ phụ cũng nhắc nhở: “Nên một thầy dòng thật, nên một thầy dòng thánh không phải dễ” (Dn, số 135).
Trên con đường nên thánh, chắc chắn sẽ có khó khăn, thử thách, thậm chí sa ngã. Nhưng chính trong yếu đuối, ta càng cảm nghiệm được sức mạnh của ơn Chúa. Thánh Phanxicô Salêsiô từng nói: “Cứ cất bước, dù chậm, chúng ta sẽ đi xa.” Điều quan trọng không phải là chúng ta đi nhanh hay chậm, nhưng là có đi, có bước, có tiến về phía trước. Một trái tim khao khát vươn lên sẽ không bao giờ cho phép mình dừng lại trong sự lười biếng hay thỏa hiệp.
Tu luật của Thánh Biển Đức, ở phần kết, đã khẳng định: Chúng ta sẽ đạt tới đỉnh cao của đạo lý và nhân đức, nếu chúng ta không ngừng tiến bước, không bao giờ bỏ cuộc, và luôn trung thành với Chúa Kitô (x. Tu luật, 73). Chính nhờ thái độ kiên trì ấy, mà đời đan sĩ mới thực sự trở thành hành trình tiến về sự trọn lành.
KẾT LUẬN
Có một câu chuyện rất ý nghĩa mà cha Anthony de Mello kể lại. Một tu sĩ Sufi Bayazid đã chia sẻ:
“Tôi là nhà cách mạng, khi tôi còn trẻ và tất cả lời cầu nguyện của tôi với Chúa là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để con thay đổi thế giới”. Khi tôi tới tuổi trung tuần và nhận thấy rằng nửa đời người đã qua đi mà không thay đổi được một tâm hồn nào. Tôi đã thay đổi lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi những người liên hệ và gặp gỡ con, như gia đình và bạn bè của con và con sẽ được an lòng”. Bây giờ, tôi đã già và ngày giờ sắp hết, lời cầu của tôi: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi chính con”. Nếu tôi cầu nguyện điều này ngay từ đầu, tôi đã không phí uổng cuộc đời của mình” (Change the world by changing me, tr. 40).
Câu chuyện ấy mang một thông điệp sâu xa: mọi cuộc canh tân lớn lao đều bắt đầu từ việc canh tân chính bản thân mình.
Con người luôn khao khát canh tân, nhưng nếu không bắt đầu từ chính mình, mọi cố gắng sẽ chỉ là lý thuyết. Canh tân không phải là những cuộc cải tổ vĩ đại ở bên ngoài, nhưng là những đổi thay âm thầm và kiên trì ở bên trong, nơi tâm hồn, trong từng suy nghĩ, từng hành vi nhỏ bé của đời sống hằng ngày.
Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã để lại cho chúng ta một gương sáng như thế. Với ngài, mục đích của đời đan sĩ là “tìm kiếm Thiên Chúa và nên thánh.” Con đường nên thánh ấy không phải là điều gì xa vời, mà là con đường Giêsu: con đường xét mình mỗi ngày, con đường sửa đổi từng chút, và con đường luôn bắt đầu lại. Ngài viết: “Năm ngoái trễ nải thì nay ăn năn chừa cải. Việc đã qua thì thôi, bây giờ hãy bắt đầu lại cho thật sự” (Dn, 146).
Noi gương Cha Tổ Phụ không chỉ là nhắc lại lời ngài, nhưng còn là đi sâu vào tâm hồn ngài – nơi chính Chúa Kitô hiện diện. Thánh Phaolô từng khẳng định: “Hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Chúa Kitô” (1Cr 11,1). Chúng ta cũng thế, noi gương Cha Tổ Phụ là noi gương Chúa Kitô, Đấng là căn nguyên và cùng đích của mọi cuộc canh tân.
Ước gì, khi trở về nguồn, mỗi người chúng ta tìm lại ngọn lửa tình yêu ban đầu, để mỗi ngày sống sung mãn lời khấn Canh tân. Nhờ đó, đời sống đan sĩ không ngừng được đổi mới, thăng tiến, và trở thành “thầy dòng thật, thầy dòng thánh” như Cha Tổ Phụ hằng mong ước.
SÁCH THAM KHẢO
1. Kinh Thánh - ấn bản 2011
2. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo – 2018
3. Giáo Luật - 1983
4. Thánh Biển Đức, Tu Luật
5. Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia
6. Sách Thói Lệ Hội Dòng Xitô Thánh Gia
7. Di Ngôn Cha Biển Đức Thuận
8. Gioan TG Lê Văn Đoàn, O.Cist, Tiểu Sử Cha Biển Đức Thuận: I, II, III
9. Augustine Roberts, OCSO, Đặt Nền Tảng Trên Đức Kitô, chuyển ngữ: Gioan Tân Phan Văn Toàn, O.Cist.
10. FM. Anselmo Hồ Sĩ Chức, O.Cist, Hồng Ân Hoán Cải
11. Hạt Giống Chiêm Niệm - Nội San Linh Đạo Đan Tu, chủ đề: Canh Tân, số 14, tháng 01 năm 2014.
12. Ban huấn luyện Hội dòng Xitô Thánh Gia, Đời Thánh Hiến và Lời Khấn Dòng, Lưu hành nội bộ.
-
Đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel trong ngày Truyền Tin (x. Lc 1,26-38) (16/08)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống lời khấn Vâng Phục, thuận theo Ý Chúa, theo gương Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận (07/04)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống “cảm thức thuộc về” theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận trong nếp sống huynh đệ cộng đoàn (13/03)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống lòng thương xót theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (03/03)
-
Đào tạo người môn đệ trưởng thành sống tình huynh đệ và liên đới (02/12)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống tinh thần hiệp hành “một đi chung cùng nhau” (DN 150) trong đời sống cộng đoàn, theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (29/10)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống tinh thần "Ad majorem Dei gloriam" theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (16/09)
-
Lao động trong đời sống đan tu (08/01)
-
Vấn đề truyền thụ ngày nay (01/02)
-
NHỮNG THÀNH KIẾN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC (17/10)
























