Suy niệm

Chúa Nhật XXX TN, C, Lc 18,9-14: Khiêm tốn để được nên công chính

Hôm nay, từ thái độ của người Pha-ri-siêu lên đền thờ cầu nguyện, Lời Chúa như mời gọi mọi người Ki-tô hữu hãy nhìn lại đời sống đức tin của mình trong mối trương quan với Thiên Chúa và với mọi người. Chúng ta đến với Chúa bằng thái độ nào? Chúng ta nhìn người anh chị em của mình, nhất là những người yếu đuối lầm lỡ với thái độ ra sao?

 

 

KHIÊM TỐN ĐỂ ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH

(x. Lc 18,9-14)

 

M. Huy Mỹ

 

Nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, ta gặp thấy hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót và thứ tha. Chính Ngài đã sống và mời gọi mọi người bước theo con đường yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34-35); “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44); “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt 7,12); “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán” (Mt 7,1); “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Và trên thập giá, Ngài đã diễn tả trọn vẹn lòng bao dung của Thiên Chúa qua lời cầu xin tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

 

Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, đầy bao dung và thánh thiện: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29); “Anh em hãy sống thánh thiện như Cha anh em ở trên trời là Đấng Thánh” (Mt 5,48)...

 

Ngài là chỗ dựa cho những ai thấp hèn- khổ đau. Cánh tay của Ngài luôn dang rộng chở che: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Đặc biệt, Ngài yêu thương tội nhân như mục tử tìm kiếm chiên lạc và sẵn sàng chết vì đàn chiên (x. Ga 10,11;15).

 

Đồng thời, các thánh sử Tin Mừng cũng cho biết, Ngài cũng để lại một hình ảnh không bao giờ thỏa hiệp với sự gian dối, tính kiêu ngạo, lòng ích kỷ và thói giả hình. Ngài không ngần ngại lên án, chỉ trích cho dầu người đó có thế lực, có sức ảnh hưởng lớn trong Dân Chúa như nhóm biệt phái Pha-ri-siêu, nhóm tư tế và kinh sư: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-siêu giả hình” (Mt 23,13.14.15.); “Đồ mù quáng” (Mt 23,19); “Mồ mả tô vôi” (Lc 11,44); “Đồ mạng xà, nòi răn độc” (Mt 23,23)...

 

Hình ảnh người Pha-ri-siêu lên đền thờ cầu nguyện, cho thấy hai thái độ mà Chúa không hài lòng. Đó là: Thái độ thiếu khiêm tốn, lòng tự mãn đối với Chúa và thái độ khinh chê người khác.

 

1. Thái độ thiếu khiêm tốn, lòng tự mãn đối với Chúa

 

 Người Pha-ri-siêu lên đền thờ cầu nguyện rằng: “Con không như bao người khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18,11-12). Theo ngự cảnh trong đoạn Tin Mừng, đây không phải là tâm tình tạ ơn của người Pha-ri-siêu xuất phát từ tấm lòng yêu mến Thiên Chúa mà luật Mô-sê đã truyền dạy: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5), mà là thái độ mang tính phân bua với người khác, cụ thể là người thu thuế đang cầu nguyện ở đàng xa: con không như tên thu thuế kia (x. Lc 18,11).

 

Thay vì cầu nguyện là kêu cầu Chúa với tâm hồn khiêm tốn, nài xin lòng nhân từ của Thiên Chúa, như tâm hồn cầu nguyện của vua David, vị vua mà Dân Chúa tự hào và ngưỡng mộ: “Lạy Thiên Chúa, xin lòng nhân hậu xót thương con” (Tv 50,3), người Pha-ri-siêu lại thể hiện tính tự cao, tự mãn và khoe trương những việc mình làm. Đặt mình là trung tâm của cầu nguyện, Chúa chỉ là vai phủ, Chúa phải lắng nghe: con không như bao kẻ khác; con không như kẻ thu thuế kia. Con đã làm những việc tốt này, việc tốt kia...., Chúa phải ưu ái con hơn người khác mới được.

 

Người Pha-ri-siêu muốn dùng cầu nguyện để ép Chúa làm tổng tài phân xử công minh và tán thưởng những việc làm tốt đẹp của mình, đồng thời, muốn Chúa đứng về phía mình để khiển trách người thu thuế kia mà ông cho là tội lỗi.

 

Người Pha-ri-siêu còn tự cho mình là người công chính trước mặt Thiên Chúa vì đã tuân giữ lề luật cách tỉ mỉ, nhưng thực ra: “Người ta nên công chính vì tin, chứ không phải làm những gì luật dạy” (Rm 3,28); “Ông Áp-ra-ham đã tin Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công chính” (Rm 4,3; Cl 3,6); “Những ai dựa vào đức tin, những người ấy là con cái ông Áp-ra-ham” (Cl 3,7).

 

Khi tự cho mình là công chính trước mặt Thiên Chúa nhờ tuân giữ lề luật, là tự cho mình không cần nhờ đến ân huệ của Thiên Chúa, cũng không cần đến ơn cứu chuộc của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô. Thánh Phaolo khẳng định với chúng ta rằng: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giêsu” (Rm 3,24).

 

Với thái độ ngạo mãn, tự cao và khoe trương của người Pha-ri-siêu khi lên đền thờ cầu nguyện, Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng: ông ta không được nên công chính (x. Lc 18,14), “vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14). Ông ta đã không còn sống tâm tình của Dân Chúa: “Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ không ngoan” (Tv 50,8).

 

2. Thái độ khinh chê người khác

 

Chúa Giêsu, Ngài sống và dạy các môn đệ rằng: “Anh em đừng phán xét, thì anh sẽ không bị Thiên Chúa phán xét. Anh đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại...., vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đóng lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,36-38).

 

Đối với Dân Chúa, đền thờ là nơi Thiên Chúa hiện diện, là nơi thánh và cũng là nơi để con người gặp gỡ Thiên Chúa (x. Mc 11,17). Nhưng trong cuộc gặp gỡ này, người Pha-ri-siêu lại không cảm thấy mình nhỏ bé trước Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, Đấng nhìn thấu mọi tâm can của lòng người:

 

“Ngài dò xét con và Ngài biết rõ

Biết cả khi con đứng con ngồi

Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa...” (Tv 139,1-2).

 

Chính vì không cảm nhận được sự uy linh đầy quyền năng và yêu thương của Thiên Chúa, Đấng đang nhìn thấy sự dối trá, sự kiêu hãnh, lòng ghen tuông và đố kỷ của mình, nên người Pha-ri-siêu vẫn sống theo thái độ quen thuộc. Đó là tính kiêu căng, lòng ngạo mãn, thiếu khiêm tốn, thích khoa trương, chuộng hình thức, nhất là sống hai mặt: bên ngoài thì đạo đức, bên trong thì gian ác giống như mồ mạ tô vôi (x. Lc 11,39-52),

 

Người Pha-ri-siêu thích sống giả dối với chính mình và không thành thật với Thiên Chúa, nên ông đã đánh mất cơ hội để Thiên Chúa thay đổi từ bên trong là lòng dạ con người: “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khi mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt, để chúng đi theo các thánh chỉ của Ta và tuân giữ cùng thi hành các quyết định của Ta” (Ed 11,19).

 

Khi lòng dạ không để cho Thiên Chúa thay đổi, người Pha-ri-siêu trong bài Tin Mừng hôm nay cho dầu ông đang ở nơi thánh thiêng nhất của Dân Chúa là đền thờ; ông đang cầu nguyện với Đấng là Thiên Chúa duy nhất mà con người phải tôn thờ, ông vẫn không thể nào thay đổi được thái độ và cách sống quen thuộc mang tính xác thịt và thế gian. Đó là: hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp và chia rẽ.....  (x. Cl 5, 19-21). Cho nên, nơi linh thiêng của đền thờ và đang cầu nguyện với Thiên Chúa, ông vẫn ghen tỵ người thu thuế, ông vẫn lên án, chỉ trích và loại trừ người thu thuế trong khi người thu thuế chẳng làm gì tới mình.

 

Hôm nay, từ thái độ của người Pha-ri-siêu lên đền thờ cầu nguyện, Lời Chúa như mời gọi mọi người Ki-tô hữu hãy nhìn lại đời sống đức tin của mình trong mối trương quan với Thiên Chúa và với mọi người. Chúng ta đến với Chúa bằng thái độ nào? Chúng ta nhìn người anh chị em của mình, nhất là những người yếu đuối lầm lỡ với thái độ ra sao?

 

Thiết kế Web : Châu Á