ƠN GỌI
Tổng quan linh đạo của Cha tổ phụ Biển Đức Thuận - Đấng sáng lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia
TỔNG QUAN LINH ĐẠO CỦA CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN
– ĐẤNG SÁNG LẬP HỘI DÒNG XITÔ THÁNH GIA
M. Alberto Vũ Bá Đạt
Dẫn nhập
Năm 2025 là năm đặc biệt của Đan viện Phước Lý, là năm thánh kỷ niệm 75 năm thành lập đan viện. Sự nô nức đón mừng năm thánh của tất cả thành viên đan viện thể hiện qua nhiều công tác: tổ chức đại lễ năm thánh, biên soạn ra mắt tập san Kỷ Yếu Đan Viện như là dịp ôn cố tri tân và cùng nhau học hỏi về các chủ đề khác nhau qua các buổi thuyết trình chung.
Các đề tài thuyết trình trong năm đều xoáy về chủ đề: đời sống và linh đạo Cha tổ phụ. Tại sao vậy? Lý do trước hết là Đức cha Đỗ Văn Ngân muốn trong năm thánh này, cộng đoàn đan viện nên cùng nhau học hỏi và đào sâu về linh đạo của Đấng sáng lập.
Lý do thứ hai là trong dịp Tổng Hội thường niên khóa 19 năm 2024 tại đan viện Châu Sơn Nho Quan, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, trong bài huấn dụ khai mạc, có nhắn nhủ với các Bề trên và quý thành viên Tổng Hội là: Hội Dòng Xitô Thánh Gia từ khi thành lập cho đến nay đã hơn 100 năm nhưng vẫn chưa có một cuốn sách nào viết cụ thể về linh đạo cha Biển Đức Thuận, Hội Dòng có rất nhiều tiểu ban nhưng chưa có một tiểu ban nghiên cứu về linh đạo cha Biển Đức Thuận. Đối với ngài, đó là một thiếu sót lớn. Vì vậy, Tổng Hội khóa thường niên 19 năm 2024 đã thành lập tiểu ban nghiên cứu về linh đạo Cha tổ phụ với rất nhiều thành viên.
Và theo tinh thần đó, đặc biệt trong năm thánh kỷ niệm 75 năm thành lập đan viện vừa qua, chúng ta đã thuyết trình nhiều đề tài xoay quanh về gương sáng đời sống - giáo huấn của Cha tổ phụ, và hôm nay xin được trình bày với Cộng đoàn đề tài: Tổng quan linh đạo của Cha tổ phụ Biển Đức Thuận.
I. Khái niệm về thuật ngữ “linh đạo”
1. Linh đạo là gì?
Khi nói về linh đạo Cha tổ phụ, điều tiên quyết chúng ta cần phải biết và nắm cho rõ cho vững về hai chữ “linh đạo”. Linh đạo là gì? Có rất nhiều định nghĩa về “linh đạo”, có người cho rằng: “Linh” là linh thiêng, “Đạo” là đường, linh đạo là con đường thiêng liêng, nhờ con đường linh thiêng này, con người dễ dàng gặp gỡ Thiên Chúa. Trong sách “YOUCAT- giáo lý Công Giáo dành cho giới trẻ”, linh đạo được hiểu như: “là những lối sống đạo đức trong Hội Thánh, được phát triển bằng nhiều cách, xuất phát từ những thực hành trong đời sống các vị thánh được Chúa Thánh Thần linh hứng. Vì thế, ngày nay người ta thường nói đến linh đạo Biển Đức, linh đạo Phanxicô hay Đaminh….” (số 497).
Xét về chiều kích tôn giáo, linh đạo là một cách thức để tìm gặp Chúa, tìm thánh ý Thiên Chúa; là một lối sống để nên thánh; là một đường lối đi theo Đức Giêsu; một kinh nghiệm về Thiên Chúa của một người hoặc một nhóm người, kinh nghiệm ấy giúp họ cảm nhận Thiên Chúa, đụng chạm, để chọn lựa lối sống của Thiên Chúa, và để sống thân tình với Ngài. Thật vậy, linh đạo là một trong những cách thức biểu lộ hoặc diễn tả kinh nghiệm gặp gỡ, tìm biết và thực thi thánh ý Chúa, nhằm làm đẹp lòng một mình Người[1].
Vậy khi chúng ta nói là tìm hiểu về linh đạo Cha tổ phụ cũng có nghĩa là chúng ta tìm hiểu về lối sống để nên thánh của Cha tổ phụ, cách thức để gặp Chúa và kinh nghiệm về Thiên Chúa nơi Cha tổ phụ. Nhưng linh đạo khác với đặc sủng và sứ vụ như thế nào?
2. Linh đạo với đặc sủng và sứ vụ
Đặc sủng được coi là ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người vì lợi ích chung (x. 1Cr 12, 4-7. 11; LG 12). Đặc sủng là yếu tố chính tạo nên sự khác biệt giữa hội dòng này với hội dòng khác. Đặc sủng chính là sức sống, là nguồn mạch của mọi hoạt động tông đồ của mỗi hội dòng. Năm 1791, Đức Piô VI đã viết rằng các Đấng sáng lập không thể lập nên những hội dòng nếu không được Thiên Chúa linh hứng (inspiration). Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên khẳng định vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc sáng lập các hội dòng[2].
Trước công đồng Vatican II, ý tưởng về đặc sủng của đời sống thánh hiến chưa được biết đến. Từ công đồng Vat. II, theo Lumen Gentium, đời sống thánh hiến được xem như không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh, nhưng thuộc về cơ cấu đặc sủng hay cơ cấu Thần khí. Đời sống thánh hiến là một ân huệ của Chúa Thánh Thần, Ngài khơi dậy nơi các tín hữu lòng khao khát nên trọn lành, bước theo Chúa Kitô qua việc sống các lời khuyên Phúc âm cách triệt để (x. LG 43; PC 1).
Công đồng Vatican II không sử dụng cụm từ “đặc sủng của Đấng sáng lập”. Đức Phaolô VI là vị Giáo hoàng đầu tiên nói đến vấn đề này. Ngài đã qui chiếu về công đồng và sử dựng từ đặc sủng để nói về những ân sủng khác nhau của các Đấng sáng lập: “Chỉ như thế, các con mới có thể nâng tâm hồn lên để đón nhận chân lý và tình yêu của Thiên Chúa theo các đặc sủng của các Đấng sáng lập của chúng con, mà Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội” (Evangelica Testificatio số11).
Văn kiện của Bộ Tu sĩ và Bộ Giám mục đã nói về đặc sủng của Đấng sáng lập như sau: “Đặc sủng của các Đấng sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên” (Mutuae Relationes 11). Vì lý do này mà đặc tính của mỗi hội dòng khác nhau được Giáo hội bảo tồn và nuôi dưỡng (x. Lumen Gentium 44; Christus Dominus 33, 35).
Mỗi hội dòng giống như một cái cây: gốc rễ của nó là đặc sủng, thân cây là linh đạo và hoa trái của nó là hoạt động tông đồ hay sứ mệnh truyền giáo. Đấng sáng lập nhận được đặc sủng để mở ra một hướng đi mới của việc sống những lời khuyên Phúc âm, một con đường nên thánh (linh đạo) và đồng thời để đáp ứng một nhu cầu nào đó của Giáo hội (sứ mệnh truyền giáo).
Do đó, một hội dòng mà không sống theo đặc sủng của Đấng sáng lập sẽ đánh mất đi căn tính của nó, và như một hệ quả, mất đi phương hướng của nó. Chìa khóa cho sự phát triển của mỗi hội dòng là trung thành với đặc sủng của Đấng sáng lập. Bởi đó, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã kêu gọi các cộng đoàn tu trì phải trung thành với tinh thần, với những ý hướng Phúc âm và gương thánh thiện của Đấng sáng lập. Chính ở đây mà các hội dòng tìm thấy nguồn gốc của họ (x. Evangelica Testificatio số 11-12). Người tu sĩ cần phải biết được căn tính ơn gọi của mình trong Giáo hội. Họ phải giữ gìn, đào sâu và sống với sự trung thành và lòng biết ơn đối với đặc sủng mà Đấng sáng lập của họ đã nhận được và truyền lại cho họ.
3. Làm thế nào để khám phá ra đặc sủng và linh đạo của Đấng sáng lập?
Mọi hội dòng được sinh ra từ Thần khí. Đây chính là nguồn gốc của mỗi hội dòng. Tìm lại đặc sủng chính là tìm lại căn tính của mình. Mỗi Đấng sáng lập tìm ra một cách mới để sống những lời khuyên Phúc âm. Thiên Chúa ban cho họ một kinh nghiệm sâu xa về chính Ngài để mà những người khác có thể hưởng nhờ.
Như đã trình bày, đặc sủng không thể định nghĩa hay giản lược vào một công thức. Nó có thể được mô tả qua những biểu lộ của nó. Nó là gia sản tinh thần của cả hội dòng và cần được sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên (x. Mutuae Relationes 11). Bởi vậy, để khám phá ra đặc sủng của Đấng sáng lập, chúng ta cần Tìm hiểu về con người, đời sống, bút tích... của Đấng sáng lập.
Công đồng Vatican II nói về gia sản tinh thần của mỗi hội dòng. Gia sản đó gồm có tinh thần, ý định của Đấng sáng lập và những truyền thống lành mạnh (x. Perfectae Caritatis số 2). Ý định của Đấng sáng lập được bày tỏ qua bút tích, cách thức xử sự hành động hoặc qua văn thư châu phê của giáo quyền.
Chúng ta có thể đọc tất cả những cuốn sách viết về đặc sủng và đời sống thánh hiến, nhưng nếu chúng ta không biết gì về Đấng sáng lập của chúng ta, chúng ta sẽ không biết được đặc sủng của chúng ta. Đấng sáng lập phải được thấy như là chìa khóa để hiểu được bản chất của hội dòng. Đấng sáng lập là nơi đầu tiên giúp chúng ta đào sâu đặc tính thực sự của hội dòng. Có học giả khẳng định rằng để định rõ được những ý định của Chúa Thánh Thần và hiểu được ý nghĩa của căn tính và đặc sủng, chúng ta phải khám phá lại Đấng sáng lập.
Để tìm hiểu linh đạo Cha tổ phụ, chúng ta chỉ dựa trên ba tài liệu cơ bản: Hạnh tích Cha tổ phụ do viện phụ Emmanule Triệu Chu Kim Tuyến biên soạn, cuốn Di ngôn cha Biển Đức Thuận được soạn thảo vào năm 1993 theo ý của viện phụ Duy Ân Vương Đình Lâm, kỷ niệm 75 năm thành lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia, và cuốn Lời giáo huấn của Cha tổ phụ do thầy Vincentio Nguyễn Văn Tình, một trong các đồ đệ sống gần Cha tổ phụ ghi chép lại.
II. Linh đạo Cha tổ phụ Biển Đức Thuận
1. Giai đoạn trước khi lập dòng: khao khát truyền giảng Tin mừng của Chúa cho mọi người
Theo tác giả sách Hạnh tích Cha tổ phụ, ngay từ khi còn nhỏ, Cha tổ phụ là một đứa trẻ trí khôn sắc sảo, tính khí lanh lợi, lại ngoan ngoãn đạo đức. Đây là kết quả của lối giáo dục đạo đức của cha mẹ trẻ Henri Denis như người ta vẫn nói: “phúc đức tại mẫu”. Tác giả Hạnh Tích viết: “Trẻ Henri cứ hấp thụ luồng không khí êm đềm đạo đức ấy mà lớn lên trên gối mẹ (Hạnh tích, tr. 26).
Sau khi chịu phép thêm sức vào tháng 06/1893, Cha Golliot là giáo sư tiểu chủng viện Bologne, thấy trẻ Henri nết na đức hạnh, thông minh thì muốn nhận cho đi nhà trường. Không rõ tác giả Hạnh tích dựa vào đâu, nhưng dám khẳng định là tự thâm tâm linh hồn, Henri nghe tiếng Chúa gọi như thánh Phêrô: “Hãy theo Thầy” (Hạnh tích, tr. 30). Sau 6 năm tiểu chủng viện, Henri thi đậu tú tài I với bảng vàng danh dự nhưng lại trượt mất tú tài II vì chén cafe pha rượu mùi. Từ giai đoạn này, tác giả Hạnh tích ghi là tự thâm cung linh hồn mình chú nghe tiếng Chúa gọi: “Cha khát, cha khát các linh hồn!” và quyết xin cha mẹ cho gia nhập Hội Dòng Thừa sai Paris (Hạnh tích, tr. 34). Việc chuyển hướng này, tác giả Hạnh tích cho rằng không phải vì trượt thi tú tài II, nhưng ý tưởng tốt lành ấy đã in vào trí não chú ngay từ khi học lớp 5 (Hạnh tích, tr. 34) đồng thời vì nghe tin cha Eloy cựu giáo sư đạo lý của mình được kêu gọi làm tông đồ ngoại quốc, nên muốn xin gia nhập hội thừa sai Paris. Vào một buổi chiều sau cơm tối, Henri mạnh dạn nói với song thân: “Lạy cha mẹ rất yêu dấu, nếu đẹp ý cha mẹ thì xin ban phép cho con đi Paris nhập Hội Dòng Thừa sai, vì con nghe thấy rõ tiếng Chúa gọi con” (Hạnh tích, tr. 36).
1.1 Gia nhập hội Thừa sai Paris
Thời gian tu học ở Paris, phẩm chất của thầy Henri được tác giả sách Hạnh tích Cha tổ phụ mô tả: “Thầy nghiêm trang đứng đắn, song vui vẻ, đạo đức, sốt sắng, sáng trí thông minh, sở trường về âm nhạc đàn hát, lại học Latinh rất mau. Ai cũng mến thương” (Hạnh tích, tr. 37). Chịu chức linh mục ngày 07/03/1903, cha ước mơ sang giảng đạo bên Cao ly (tên của Triều Tiên và Hàn Quốc ngày nay), vì đó là trót ý nguyện của Cha (Hạnh tích, tr. 37), nhưng ý Chúa nhiệm mầu thế nào mà cha bề trên của Hội thừa sai Paris lại viết bài sai cha Henri Denis qua Việt nam, địa Phận Huế.
Đến Đà Nẵng vào ngày 31/5/1903, lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, cha vào nhà chung Đà Nẵng nghỉ ngơi. Hôm sau khởi hành ra Huế, cuốc bộ 40km đến Lăng Cô được cha cố giáo Nhơn (R.P. Mendibuore) tiếp đón. Ra đến Huế, cố Nhơn đưa cha đến chào Đức cha Lộc (Gaspar) và Đức cha đặt tên cho cha Henri Denis là cố Thuận (Hạnh tích, tr. 41) rồi sai cha đến giúp cố Chính Đăng và học tiếng việt ở Kim Long. Ở Kim Long ít tháng, đức cha bổ nhiệm ngài làm giáo sư chủng viện An Ninh, bề trên Hòa (Gigard) giám đốc chủng viện cử cha Thuận dạy văn chương và tu từ.
1.2 Giáo sư chủng viện An Ninh
Thời gian làm giáo sư chủng viện, Cha tổ phụ chịu khó dọn bài, chấm bài, hay pha trò với học sinh, nổi tiếng trong việc đàn hát, tập hát hăng nồng như lửa, đặc biệt là rất nóng tính (Hạnh tích, tr. 43). Trong vai trò giáo sư chủng viện, cha làm việc rất nhiều nhưng lại rất nhiệm nhặt kiêng khem trong nếp sống: mỗi đêm cha ngủ có 5 tiếng, không ngủ trưa để viếng Chúa, giữ chay rất ngặt vào mùa chay, hãm mình quá nên người gầy ốm tong teo; phòng ngủ cha chẳng có gì đáng giá ngoài cái bàn viết xấu, vài ba cái ghế, một giường nhỏ, không nệm, gối đầu bằng cục gỗ, vài ba bộ quần áo vải thô… tóm lại là cha yêu mến đức khó khăn và khinh chê tiền bạc (Hạnh tích, tr. 45). Đi đâu cha cũng giữ thái độ nghiêm chỉnh khiêm tốn: đầu cúi xuống, hai tay tréo lại, cặp mắt ngó xuống, không trông ngang ngửa (Hạnh tích, tr. 46). Tất cả điều đó cho thấy, cha yêu mến người Việt Nam, cha muốn sống như người Việt Nam và cha muốn sống cho người Việt Nam, như lá thư ngài viết cho bà kế mẫu: “Xin cha mẹ cầu nguyện cho người Việt Nam yêu dấu của con. Càng ngày càng thương mến người Việt Nam của con…” (Hạnh tích, tr. 47). Vì yêu mến người Việt Nam như thế nên cha cũng thích đi giảng đạo cho người Việt Nam.
1.3 Mục vụ họ đạo Nước Mặn
Tác giả Hạnh tích viết: “Theo chứng thư của cha Các gửi đến, thì cha giáo Thuận ước ao đi mở mang nước Chúa hơn là làm giáo sư chủng viện” (Hạnh tích, tr. 50). Điều này chính là tâm huyết của cha như trong lá thư ngài viết: “Lạy cha mẹ rất yêu dấu, thương hại thay cho người ngoại giáo, lễ Sinh nhật năm nay cũng còn chưa phải cho họ! Chúa xuống thế đã gần 2000 năm, mà còn biết bao kẻ chưa nhận biết Người! Khi con suy sự ấy, thì cái phòng giáo sư của con đây nên như cái ngục cho con! Con ước ao mở miệng là hết sức về Chúa cho những kẻ chưa nhận biết Người được trở lại kẻo sa hoả ngục thì tội nghiệp quá! Chắc năm sau đây con sẽ được làm cố đi giảng đạo, hoặc cho người chợ hay người thượng, được vậy, con thoả lòng biết bao!” (Hạnh tích, tr. 51). Khi được cố Chính bổ nhiệm đi coi họ Nước Mặn, tác giả Hạnh tích diễn tả rằng: “Cầu được ước thấy, bấy lâu cha giáo Thuận chỉ những khát vọng làm tông đồ truyền giáo, nay được phép thì vui mừng khoái lạc như cá gặp nước” (Hạnh tích, tr. 52).
Trong việc mục vụ, cha thi hành rất nhiều phương thế cho việc truyền giáo:
Thứ nhất là dạy kinh bổn đạo: Thường ngài dạy từ 8 giờ sáng đến 6 giờ tối và từ 8 giờ tối đến 11 giờ khuya, tất cả chừng 11 hay 12 giờ. Ngài nói: “Công việc chiếm nhiều thời giờ nhất của con là dạy kinh bổn cho giáo hữu tân tòng…” (Hạnh tích, tr. 55).
Thứ hai là đi thăm viếng các gia đình: “Lạy cha mẹ rất yêu dấu, con đi thăm bổn đạo, con đến từng nhà một. Mỗi nhà con cho một ảnh Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành, tràng hạt áo Đức Bà, đoạn con nói ít lời an ủi họ” (Hạnh tích, tr. 55).
Thứ ba là làm thuốc cho kẻ đau yếu: “Lạy cha mẹ thân mến, nhà con ở càng ngày nên như nhà thương, hơn bù kém mỗi ngày ít nhất cũng có 50 người đến xin thuốc…” (Hạnh tích, tr. 56).
Thứ bốn là thương giúp kẻ nghèo khó: Thầy Michael, nghĩa tử của ngài chứng minh: “Người thương yêu kẻ khó khăn hết sức. Hằng ngày kẻ khó đến xin luôn mà chưa hề thấy cha để ai về tay không. Có nhiều lần ngài bố thí hết không còn một trự, đầu bếp đến xin tiền chợ thì ngài bảo ra xóm mượn đỡ” (Hạnh tích, tr. 57).
Thứ năm là hay mở cuộc lễ linh đình, hoặc dọn tiệc cho người ta ăn uống: Thường niên dịp lễ Sinh nhật ngài quen cho bổn đạo ăn tiệc ban đêm mừng Chúa Hài Đồng, như thơ ngài viết: “Lạy cha mẹ yêu dấu của con, lễ Sinh nhật ở họ con vui lắm, Lễ nửa đêm được 190 người rước lễ, lễ tất con cho họ ăn mừng Chúa Hài Đồng có 310 người ăn, không kể đàn bàn con nít. Con đã hạ 1 trâu, 1 heo và 15 thúng gạo xôi” (Hạnh tích, tr. 59).
Tất cả những hoạt động này của cha cho ta thấy linh đạo của cha trong hoạt động truyền giáo: KHÁT KHAO CHO DANH CHÚA ĐƯỢC MỌI NGƯỜI NHẬN BIẾT VÀ YÊU MẾN THIÊN CHÚA. Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu lại muốn cha thực hiện một việc lớn lao hơn nữa nhằm mở mang nước Chúa trên mảnh đất Việt còn nhiều người chưa nhận biết Chúa, là lập một dòng đan tu chiêm niệm cho chính người Việt Nam.
2. Giai đoạn lập dòng đan tu chiêm niệm: Nên thánh trong việc chuyên lo nguyện gẫm hãm mình và cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa.
Trước khi thôi nhiệm vụ mục vụ coi họ đạo Nước Mặn và lập dòng Đức Bà An Nam, Cha tổ phụ có thời gian quay trở lại chủng viện An Ninh vào trung tuần tháng 02/1913. Trong khoảng thời gian này, nơi cha có nhiều thay đổi:
Trước hết là thay đổi tính nết: Tác giả Hạnh tích Cha tổ phụ viết rằng: “Cha Benoit kiêu ngạo và nóng nẩy quá lẽ, song bởi ngài chí quyết sửa mình và ổn định hai tính ấy cho được, nên Chúa thương cho ngài nên thánh, sau ra thêm khiêm nhường hiền lành cách lạ, Nghe các chú nói: Ngài đã quyết đi lập Dòng nên mới hãm dẹp tính nóng như vậy. Nhiều khi ngài kìm hãm tính nóng đến nỗi đỏ mặt tía tai, chân tay run rẩy” (Hạnh tích, tr. 76).
Thứ đến là cha sốt sắng hơn trong cầu nguyện: “Hễ cố Thuận vào nhà thờ thì quỳ gối hai tay chấp hoặc vòng lại, đầu cúi xuống, chăm chỉ một bề không máy động. Lòng trí cha đầy đức tin, cậy, khiêm nhường, kính mến Chúa tha thiết”. Theo lời chứng của Cha Kinh: “Trưa nào tôi lên nhà thờ tập đàn cũng thấy ngài quỳ đó luôn”. Ngài đọc kinh nhật tụng, dọn mình làm lễ và cám ơn sốt sắng lắm. Kinh nhật tụng thì ngài đọc đúng giờ và đọc trong nhà thờ với dáng điệu trang nghiêm và cầm trí sốt sắng đến nỗi học sinh vào mà ngài không biết” (Hạnh tích, tr. 86).
Bước sang năm 1918, các cha làm chứng: từ đây đến tháng 7 là lúc khởi sự lập dòng, cha giáo Thuận càng ăn ở sốt sắng nhiệm nhặt, khiêm nhường. Ngài tập dậy sớm, xem sách luật dòng thánh Benedicto luôn…nhất là khi ngài dọn luật dòng, thì năng thấy ngài vào nhà thờ quỳ trước Mình Thánh mấy giờ luôn, có khi trót buổi chiều đến tối. Cha tập đức khiêm nhường cách riêng vì cha quí trọng đức ấy nhứt. Không bao giờ ngài nói khoe mình hoặc khinh dể kẻ khác (Hạnh tích, tr. 96).
Nhưng việc chuyển hướng từ mục vụ sang lập dòng của cha là do bởi tính cha hay thay đổi? Tác giả Hạnh tTích trả lời dứt khoát là KHÔNG. Vì ý tưởng lập dòng đã hiện tượng trong trí não ngài, ít là từ khi được bài sai sang Việt Nam (Hạnh tích, tr. 103). Tác giả trích lại lá thư của gia đình bà Hyacinthe Louvier gửi cho cha bề trên nhì Bernard: “Trước khi sang Việt Nam, ngài đến từ giã chúng con lần sau hết, ngài tỏ ý kiến tốt lành là muốn làm thầy dòng và giúp đào luyện cho có thầy dòng Việt Nam” (Hạnh tích, tr. 103). Viết thư cho song thân, cha cũng từng than thở: “Địa phận Huế có dòng Kín rồi, còn dòng Nam lo việc nguyện gẫm hãm mình thì chưa”. Ngài tỏ với cha mẹ ước ao lập dòng Nam riêng cho Việt Nam nhất là cho những người có thiện chí, muốn dâng mình cho Chúa mà thiếu phương tiện (Hạnh tích, tr.104). Thế đã rõ ý tưởng lập dòng không phải tình cờ khởi phát trong trí não ngài, do tính hay thay đổi thua buồn vì công việc giảng đạo không xuôi, bèn là một ơn thánh triệu đặc biệt Chúa dành cho cố Thuận từ thuở đời đời (Hạnh tích, tr. 106).
Ban đầu cha muốn xin dòng Trappe hoặc Chartreux sang lập ở Việt nam nhưng đất thì không có, tiền cũng không, lấy gì mà nuôi họ (Hạnh tích, tr. 105), bởi ngài rất hiểu tâm lý người Việt: ai cũng muốn có dòng nguyện gẫm hãm mình như dòng Trappe hay là Chartreux giữa dân chúng. Lập dòng là chuyện hệ trọng nên ngài suy đi xét lại kỹ càng, cầu xin ơn soi sáng, bàn hỏi cha linh hướng rồi mới dám thân thưa cùng Đức Cha. Đức Cha dạy mời dòng ngoại quốc sang. Vâng lời Đức Cha, ngài viết thơ mời dòng Trappe: Tàu, Nhật, Tây: rút cuộc không dòng nào ưng. Sau hết ngài mới dám xin Đức Cha ban phép lập thử (Hạnh tích, tr. 107).
Mồng 05/7/1918, sau khi cùng với Đức cha Allys và cố Chính đi xem vùng đất của cụ Phước Môn Nguyễn Hữu Bài dâng cúng, thì Phước Sơn thành hình trong lòng cha giáo Thuận một giờ chiều ngày mồng 05/7/1918 (Hạnh tích, tr. 111). Người đã cưu mang ý tưởng lập Dòng chín năm trường, nay đến ngày tái sinh các thầy khổ tu trên núi Phước cũng phải đa đoan nhiều nỗi; bạc tiền chẳng có, lúa gạo lại không, mà công việc thì nhiều, nào phá rừng xẻ rú, nào đào gốc đổ nền… biết liệu làm sao? Bản thân cha cũng phải gánh chịu nhiều vất vả, ngó bộ ông tây, cầm cuốc chưa quen, giơ cuốc thật cao, mà cuốc không đứt rễ cây chi cả, trời nắng tháng năm, nóng hết sức nóng, ngài thì mồ hôi ra, mặt đỏ tía tai, tội nghiệp dễ thương quá… (Hạnh tích, tr. 128). Có kẻ khinh chê việc ngài đến nỗi dám nói: “Ai cho cố Thuận lập dòng một xu là uổng một xu”. “Đứng trước chén tân toan, cha phó dâng mọi sự trong tay Cha chí ái với đức tin cậy như đứa con thơ”. (Thư ông Huỳnh Văn Sỹ, trích trong Hạnh tích, tr. 124).
Ngày 15 tháng 4 năm 1918 Đức cha Allys đệ sớ bẩm Đức Hồng Y thượng thơ bộ Truyền Giáo trong đó nói rằng: Trong địa phận tôi có một linh mục Dòng Sai, trí khôn sắc sảo và đạo đức lắm, từ mấy năm nay cứ nài xin tôi cho phép tựu hội ít người Việt Nam để cùng nhau sinh hoạt tương trợ theo luật dòng Trappe (Hạnh tích, tr. 130). Việc làm thì hằng ngày cha và anh em đọc kinh cầu nguyện và làm việc thủ công. Đây là thời khắc thường nhật: Đêm 2 giờ dậy, 2 giờ đến 4 giờ đọc kinh nguyện gẫm, xem lễ; 4 giờ cám ơn, rảnh: 4 giờ rưỡi đọc kinh, 5 giờ rưỡi làm việc.v.v. tám giờ đi nghỉ. Mỗi ngày nói chuyện một lần ban tối sau lót lòng, Chúa nhật hai lần sau cơm trưa và cơm tối, lễ trọng ba lần (Hạnh tích, tr. 136).
Ngày 21/3/1920 Đức cha Eugenio Maria Giuse hay còn gọi là Đức cha Allys ban sắc lệnh cho Phước Sơn thành lập. Trong sắc lệnh, Đức cha xác nhận rằng: “MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA DÒNG LÀ MỌI ANH EM PHẢI CHUYÊN LO NGUYỆN GẪM HÃM MÌNH VÀ NÊN TRỌN LÀNH: MỤC ĐÍCH TUỲ LÀ CẦU NGUYỆN CHO DÂN NGOẠI TRỞ LẠI. “TU LUẬT THÌ THEO BỔN LUẬT THÁNH TỔ BENOIT VÀ HIẾN PHÁP DÒNG CITEAUX NHẶT PHÉP THEO GIÁO LUẬT, TRỪ MẤY NỐ TUỲ TÒNG ĐÃ SỬA ĐỔI CHO THÍCH HỢP VỚI HOÀN CẢNH THỜI THẾ ĐỊA PHƯƠNG”. (Hạnh tích, tr. 147).
Như thế ta thấy rõ linh đạo của Cha tổ phụ khi khởi sự lập dòng và cũng là linh đạo của Xitô Thánh gia: NÊN THÁNH TRONG VIỆC CHUYÊN LO NGUYỆN GẪM HÃM MÌNH VÀ CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI CHƯA NHẬN BIẾT CHÚA.
Chúng ta cùng khảo sát linh đạo này của cha qua các lời giáo huấn của cha dành cho anh em trong các giờ hội chung.
2.1 Nên thầy dòng thánh (nên thánh)
Việc nên thánh trong ơn gọi là điều xem ra Cha tổ phụ lưu tâm nhấn mạnh, thậm chí cả trong những lời trăn trối. Lý do thật đơn giản, vì cha cho rằng chúng tôi phải nên thầy dòng thật, bằng không chỉ là phỉnh dối người ta. Họ gởi thư xin chúng tôi cầu nguyện, họ tưởng chúng tôi là những người nhân đức lắm, tòan là những ông thánh, ông thánh hết. Vậy, chúng tôi hãy lo nên thầy dòng thật. Chớ để sự họ tin cậy chúng tôi ra vô ích (Di ngôn 134). Vì vậy, các đan sĩ Xitô Thánh Gia phải ước ao nên thánh. Ước ao cho mình được nên thánh lớn trước mặt các thánh ở trên trời thì nên lắm (Di ngôn 120). Một thầy dòng chiêm niệm hãm mình mà trở nên một thầy dòng thánh thì làm ích cho Hội thánh (Di ngôn 276), và rạng danh cho dòng mình (Di ngôn 135).
Tuy nhiên, Cha tổ phụ cũng phải chân nhận một điều: nên một thầy dòng thật, nên một thầy dòng thánh không phải dễ dàng. Thật là một điều rất khó, nhưng nếu ra sức chịu khó tập tành, chăm chỉ cầu nguyện, thì thế nào cũng được. Cha cho rằng đàng nhân đức, con đường nên thánh là tuân theo Thánh ý Chúa, tức là giữ Luật Dòng cho trọn “chúng con muốn nên thánh thì hãy giữ Luật Dòng; muốn nên thánh, thì hãy giữ Luật Dòng” (Di ngôn 150). Một người có ý vào đây cho được nên thánh mà thôi (Di ngôn 138).
Giữ luật dòng là giữ những chuyện gì? Luật dòng có 3 việc phải làm:
* Đọc kinh hát lễ thay cho cả Hội thánh thờ phượng, ca ngợi Chúa: Thế gian thường lo tìm bạc tiền, lo vui chơi ngủ nghỉ, chúng ta như lính phải canh thức luôn mà cầu nguyện thay mặt Hội thánh.
* Học hành, xem sách thiêng liêng, suy gẫm, kết hiệp với Chúa.
* Làm việc xác: Trong chúng ta ai lấy việc xác làm nặng nề, buồn bực, chán ngán, thì ở Nhà dòng này không được. Ở Nhà dòng này phải làm việc xác, ai theo sức nấy. Việc xác là việc đền tội, và cũng là việc các thánh đã làm.
Đây là việc sinh hoạt thiêng liêng của đời Đan tu. Thánh Thomas vốn được đào tạo một thời tại Dòng Biển Đức, có ghi lại các yếu tố đó một cách đầy đủ: “Học hành, xem sách thiêng liêng, suy gẫm, cầu nguyện và chiêm ngưỡng” (Tổng luận II -II, 180,3).
Cả đối với những anh em đau bệnh, Cha tổ phụ cũng muốn dùng cơn bệnh mà nên thánh: “Hãy cầu nguyện cho Bề trên, cho nhà Dòng, và cho hết mọi anh em ở đây; lại cầu cho cả Hội thánh, cho kẻ có tội, kẻ ngoại, và các linh hồn trong chốn luyện ngục. Ấy là việc bổn phận thầy đau ốm” (Di ngôn 127).
2.1.1 Kính mến Chúa
Trong đàng nhân đức, đàng nên thánh, thì sự kính mến Chúa và làm tôi Người (Di ngôn 175), sống kết hiệp với Chúa đáng cho chúng ta chăm lo mà thôi. Chúa đã kêu gọi chúng ta vào Dòng, để lo một việc cao trọng ấy.
Vì lý do nào chúng ta phải kính mến Chúa?
Vì Chúa thương yêu chúng ta, nên buộc chúng ta phải kính mến Người, để chúng ta được nhờ mà thôi. Vậy, chúng ta chớ có điên khùng dại dột, chăm lo đến việc làm quá mà bỏ quên Chúa. Vì mọi sự đều vô ích chóng qua thay thảy, trừ ra một sự kính mến Chúa mà thôi. Kính mến Chúa, là hiệp một lòng với ý với Chúa (Di ngôn 113).
Sự kính mến Chúa có hai cách:
Sự kính mến Chúa bề ngoài, tỏ ra trong các việc làm: Như một người làm việc bổn phận tử tế, giữ luật chín chắn, đó cũng là kính mến Chúa trong việc bổn phận mình.
Hai là chính sự kính mến Chúa ở tại trong lòng: Là khi nhớ đến Chúa, thì thêm lòng tin cậy mến Chúa. Mến Chúa và ưng làm vui lòng Chúa (Di ngôn 114).
2.1.2 Sống kết hiệp với Chúa
Sự kín nhiệm Dòng chúng ta là hằng tìm Chúa, chuyện vãn với Chúa, kết hiệp với Chúa. Đó là phước chúng ta (Di ngôn 141). Do đó, theo Cha tổ phụ, để sống kết hiệp với Chúa, cần phải thực hiện các việc:
Cầu nguyện: Chúng ta phải siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Nhà này mà không cầu nguyện, thì hóa ra một nhà nông phu. Cầu nguyện là chính việc chúng ta. Thầy Dòng phải là con người cầu nguyện. Cầu nguyện là thực sự gặp Chúa (Di ngôn 118) cách thân tình, như giữa Cha và con. Hơn nữa, phần vụ của thầy dòng chúng ta, không phải là hoạt động bên ngoài nhưng là việc dâng lên Chúa bài ca chúc tụng liên lỉ. Phước của đời chúng ta, là trở nên một “loài chim”, hót lên lời ca ngợi Chúa, theo gương Đức Mẹ, là “con chim hót hay hơn cả” (Di ngôn 128).
Nguyện gẫm: Nguyện gẫm cũng là cầu nguyện. Sự nguyện gẫm là chính việc chúng ta phải tập cho được kết hiệp với Chúa, ấy là chính việc nguyện gẫm. Sự nguyện gẫm có 2 cách:
Sự nguyện gẫm cách thường: Chia làm 3 bậc
- Bậc thứ nhất, là kẻ biết suy gẫm mà thôi: suy nhiều, còn nói chuyện với Chúa thì ít.
- Bậc thứ hai, là ưng nói chuyện với Chúa nhiều, còn suy lẽ thì ít.
- Bậc thứ ba, là hằng ở bình an trước mặt Chúa: ít nói, nói một ít lời. Tuy không nói chi, nhưng hơn nói nhiều lắm, hằng ở bình an với Chúa lâu giờ mà không ngủ gục lo ra. Khi phải ra khỏi nhà thờ vì hết giờ, lấy làm tiếc vì phải bỏ đi.
Sự nguyện gẫm cách lạ: là được ơn kết hiệp với Chúa cách đặc biệt. Khi nguyện gẫm cách thường, là như thể chúng ta đi tìm Chúa; còn bây giờ, Chúa lại đến tìm chúng ta, cho chúng ta được gặp Chúa (Di ngôn 120).
Cha tổ phụ mong muốn chúng ta phải lo kính mến Chúa, kết hiệp với Chúa, vâng ý Chúa mọi đàng, tỉnh thức luôn mà nhớ đến Chúa, có thế thì lời chúng ta cầu nguyện mới nên thần thế trước mặt Chúa, mới làm cho người ta tin cậy chúng ta không ra vô ích. Nhưng, muốn biết chúng ta có kính mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng ta có thương yêu anh em không. Nếu chúng ta có, ấy là dấu chúng ta có lòng kính mến Chúa. Vì sự kính mến Chúa có lẽ lầm được, còn sự thương yêu anh em thì không lầm được. Sự chúng tôi kính mến Chúa không biết có chắc hay không, còn sự thương yêu anh em là dấu chắc chúng ta có lòng kính mến Chúa (Di ngôn 112).
2.1.3 Yêu thương anh em
Đức Thánh Cha Phanxicô trong tông chiếu Misericordiae Vultus có nói: “Tình yêu không bao giờ chỉ là một khái niệm trừu tượng. Tự chính bản chất của nó, tình yêu hướng đến một cái gì đó cụ thể: ý định, thái độ, và những hành vi được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày. Lòng thương xót của Thiên Chúa là mối quan tâm từ ái của Ngài cho mỗi người chúng ta. Ngài cảm thấy có trách nhiệm; nghĩa là, Ngài ước muốn sự khang an của chúng ta và muốn thấy chúng ta hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và an bình. Đây là con đường mà tình yêu nhân hậu của các tín hữu Kitô phải đi. Như Chúa Cha yêu thương, con cái của Ngài cũng phải thế. Như Cha đầy lòng thương xót, chúng ta cũng được mời gọi để xót thương nhau” (số 9).
Cũng thế, Cha tổ phụ cũng muốn chúng ta là anh em với nhau, đi đàng nhân đức như nhau, cho nên phải thương yêu nhau, chẳng những anh em ở một nhà với chúng ta đã rồi, lại phải thương yêu hết mọi người (Di ngôn 112). Bởi vì muốn biết chúng ta có kính mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng ta có thương yêu anh em không. Nếu chúng ta có, ấy là dấu chúng ta có lòng kính mến Chúa. Vì sự kính mến Chúa có lẽ lầm được, còn sự thương yêu anh em thì không lầm được. Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu thánh thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo (Di ngôn 112).
Nhưng thương yêu nhau như thế nào? Hãy giúp nhau, hãy gánh đỡ gánh nặng cho nhau, hãy nhịn nhục nhau khi lầm lỗi, lấy đức thương yêu mà che đậy nết xấu nhau, đừng xét nét anh em khi không phải việc mình (Di ngôn 122). Mà muốn cho được thương yêu anh em, phải ra khỏi mình là bỏ mình đi, thì mới thương yêu anh em được. Nếu trong nhà, mọi người đều bỏ mình đi mà lo đến anh em cách riêng, thì mọi người trong nhà đều được sự an ủi, vui vẻ biết mấy (Di ngôn 122).
Chính Cha tổ phụ đã từng giúp bàn ăn phục vụ anh em (x. Hạnh tích, tr. 205). Thầy Leo Phòng, quê ở Búng, địa phận Phú Cường, đau nặng, cha hết sức lo lằng thuốc men cơm cháo, thế mà khi thầy qua đời rồi, cha cứ buồn và phàn nàn là mình chăm sóc anh em chưa đủ. Do vậy, cha muốn chúng ta ai nấy cũng là anh em với nhau cả, đang đi cùng nhau một đường, tiến về cùng Cha chúng ta ở trên trời (Di ngôn 125) phải cố gắng ăn ở thuận hòa với mọi người, phải gắng trở nên thánh thiện; vì không có sự thánh thiện, thì không ai sẽ được thấy Thiên Chúa (Dt 12,14); hãy giữ mãi tình huynh đệ (Dt 13,1); hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình (Rm 12,9-10); hãy tôn trọng mọi người (Tu luật 4,8), đừng ghét ai (Tu luật 4,65), kính trọng người già (Tu luật 4,70), yêu thương người trẻ (Tu luật 4,71), làm hòa với người bất thuận trước khi mặt trời lặn (Tu luật 4,73), tránh tự kiêu (Tu luật 4,69).
Đức Thánh Cha Phanxicô trong tông chiếu Misericordiae Vultus khuyên chúng ta: Hãy rộng lượng với người khác với hiểu biết rằng Thiên Chúa tuôn đổ sự tốt lành của Ngài trên chúng ta với lòng quảng đại bao la (số 14). Thánh Phanxicô Salesio nói trong việc phụng sự các linh hồn cần phải có: một chén kiến thức, một thùng khôn ngoan, một biển cả kiên nhẫn.
2.2 Tham gia vào sứ vụ của Giáo Hội
Trước khi đến coi họ đạo Nước Mặn, có lần cha viết thư than thở với bà kế mẫu rằng Chúa đã xuống trần gần 2000 năm mà còn biết bao kẻ chưa nhận biết Chúa. Vì vậy cha cảm thấy cái phòng giáo sư của cha như cái tù ngục giam cha. Cha muốn mở miệng nói về chúa cho những kẻ chưa nhận biết người kẻo sa hỏa ngục (Hạnh tích, tr. 51).
Vì thế mà trong sắc chỉ Ngày 21/3/1920 Đức cha Eugenio Maria Giuse hay còn gọi là Đức cha Allys ban sắc lệnh cho Phước Sơn thành lập. Trong sắc lệnh, Đức cha xác nhận rằng: “MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA DÒNG LÀ MỌI ANH EM PHẢI CHUYÊN LO NGUYỆN GẪM HÃM MÌNH VÀ NÊN TRỌN LÀNH: MỤC ĐÍCH TUỲ LÀ CẦU NGUYỆN CHO DÂN NGOẠI TRỞ LẠI”.
Như thế đã rõ là sứ vụ của Hội Dòng Xitô Thánh Gia là cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa. Cha tổ phụ từng sánh ví Hội Thánh như cây đại thọ, các dòng hoạt động như ngành lá um tùm xanh tươi, còn hội dòng chúng ta như rễ hút khí đất cho cả thân cây, rễ đâm càng sâu, càng hút được nhiều nhựa sống, mới bổ ích cho thân cây (x. Hạnh tích, tr. 221). Cha còn nói: “Chúng ta hãy lấy mắt thiêng liêng mà xem bên tả chúng ta, có tướng quỷ Luxiphe và thần hạ chúng, bên hữu chúng ta, có Chúa Giêsu và các thánh; còn ở giữa chúng ta, có vô số các linh hồn. hai bên đều ra sức đánh nhau, để dành lấy các linh hồn. Chúa Giêsu giơ tay đầy thương tích, xin chúng ta rằng: “Hỡi chúng con, hãy cứu các linh hồn cho ta với”. chúng ta lại khá làm ngơ sao? Vậy, chúng ta hễ gặp sự gì trái ý cực lòng, hay sự khốn khó nào, hãy dâng cho Chúa để cứu các linh hồn. Như vậy, ở nhà dòng này mới vui” (Di ngôn 121).
Cần nhắc lại trong một lá thơ gửi cho cố Bình cha nhấn mạnh về mục đích thứ hai của việc lập dòng Phước sơn là cầu nguyện cho đất Việt và cho cả thế giới được tin nhận Chúa: “...mục đích chúng con ở đây là đem phần rỗi cho các linh hồn. Hàng ngày chúng con lần hạt ba chuỗi cầu cho kẻ ngoại. Các kinh chúng con đọc, việc chúng con làm, sự đau khổ chúng con chịu đều dâng lên trước toà Chúa qui về mục đích ấy cả. Mỗi ngày có một thầy trong chúng con chầu Mình Thánh Chúa một giờ, đi đàng thánh giá một lần và đánh tội vừa đánh vừa đọc một kính Miserere, cầu cho kẻ ngoại. Lại hàng tháng các ngày 15, chúng con dâng một lễ Misa, xem lễ và rước lễ cầu cho Viễn Đông trở lại” (Hạnh tích, tr. 207).
Vì thế, Thói lệ hội dòng chúng ta quy định: Ngày 15 mỗi tháng, để gây ý thức về sứ mệnh truyền giáo của Hội dòng (x. HP 2), cộng đoàn dâng Thánh lễ cầu cho việc Phúc Âm hóa. Vào lúc thuận tiện trong ngày, cộng đoàn đọc “Kinh cầu cho người chưa nhận biết Chúa” do Cha tổ phụ soạn. Mỗi ngày, người đại diện cộng đoàn làm những việc sau đây: Chầu Thánh Thể 1 giờ, Lần hạt một tràng 50, Đi Đàng Thánh Giá 1 lần, Dâng các việc hi sinh trong ngày. Mỗi cộng đoàn tùy khả năng đóng góp vật chất cho công việc truyền giáo (Hiến pháp 2, Thói lệ 187).
Tuyên ngôn của Tổng Công Nghị Dòng Xitô năm 2000 xác định: “Bởi vì Giáo Hội tiếp nhận lời chúng ta khấn hứa, cho nên chúng ta cần phải xả thân phục vụ Giáo Hội hơn nữa. Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội và hiệp nhất với Giáo Hội một cách bất khả phân ly. Do đó, phụng sự Chúa Kitô là phải phục vụ Giáo Hội hoặc bằng lối cầu nguyện hãm mình, hoặc bằng những hình thức khác nhau của tông đồ” (số 44).
Kết luận
“Chúng tôi hãy năng nhớ lại mà cám ơn Chúa, vì Chúa đã thương gọi chúng tôi vô dòng này. Thật là một ơn rất trọng” (Di ngôn 133). Xem ra lời mời gọi này của Cha tổ phụ năm xưa dành cho các thế hệ cha anh chúng ta, cũng là lời vàng ngọc khẩn thiết dành cho mỗi anh em chúng ta trong dịp trọng đại mừng 75 năm thành lập đan viện. Con số niên đại 75 năm nếu so với các hội dòng thâm niên với bề dày lịch sử trong Giáo Hội thì chúng ta còn rất trẻ, nhưng nhìn lại chặng đường đã qua, cũng đủ cho thấy lịch sử hình thành đan viện đã trải qua những tháng ngày truân chuyên, được đan dệt vừa cả niềm vui tiếng cười vừa cả những gian truân thấm đầy bao giọt nước mắt hy sinh của bao thế hệ cha anh.
Các ngài giờ đây đã an nghỉ trong Chúa, còn phần chúng ta, chúng ta cũng đang viết tiếp trang sử đan viện không phải chỉ bằng giấy bút nhưng bằng chính ơn gọi, bằng sự dấn thân nhiệt thành của chúng ta. Kỷ niệm một biến cố lịch sử cũng là dịp để ôn cố tri tân, nhìn lại tất cả đã qua đều là ân ban của Chúa mà dâng lời tán tụng; nhìn lại mọi sự đã qua để ngẫm nghĩ lại cuộc đời ơn gọi của mình. Sẽ không là dư thừa khi nhắc lại lời vàng của Cha tổ phụ chúng ta: “Chúng tôi phải nên thầy dòng thật, bằng không chỉ là phỉnh dối người ta. Họ gửi thư xin chúng tôi cầu nguyện, họ tưởng chúng tôi là những người nhân đức lắm, toàn là những ông thánh, ông thánh hết. Chúng tôi hãy nên thầy dòng thật, chớ để sự họ tin cậy chúng tôi ra vô ích” (Di ngôn 134).
“Xin chúng con chớ để lời cha nói ra như “nước đổ lá môn”, nhưng hãy dùng lấy mà nuôi linh hồn mình. Còn được chút thời giờ bao lâu đang sống, thì hãy lo nên thánh cho mau kẻo hết giờ” (Di ngôn 109). Nhà dòng là “TRƯỜNG HỌC TẬP LÀM TÔI CHÚA”, cho nên chúng ta ngày nào cũng phải tấn tới, thì ở nhà dòng mới vui (Di ngôn 146).
[1] x. “Linh đạo là gì?”, https://tinmungmoingay.com/gioan-baptiste-co-phai-la-elia-chuyen-kiep-khong/
[2] Tông thư “Quod aliquantum - Mặc dù trong mức độ nào đó”, của Đức Giáo hoàng Pius VI, ban hành ngày 10.03.1791, để lên án “Hiến chế Dân sự về Giáo sĩ” của Cách mạng Pháp. Nguyên văn đoạn liên quan viết: “…venit a ledere gli stessi insigni Fondatori, da Noi venerati sugli altari, i quali non senza divina ispirazione istituirono tali Ordini.” “… (việc ấy) còn xúc phạm đến chính các Đấng sáng lập cao cả, được chúng tôi tôn kính trên bàn thờ, là những vị đã thiết lập các Dòng tu ấy không phải là không có linh hứng thần linh.”
-
Lợi ích và tác hại của AI Chatbot trong đời sống thánh hiến (25/02)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống Lời khấn Canh Tân theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (29/08)
-
Đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel trong ngày Truyền Tin (x. Lc 1,26-38) (16/08)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống lời khấn Vâng Phục, thuận theo Ý Chúa, theo gương Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận (07/04)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống “cảm thức thuộc về” theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận trong nếp sống huynh đệ cộng đoàn (13/03)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống lòng thương xót theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (03/03)
-
Đào tạo người môn đệ trưởng thành sống tình huynh đệ và liên đới (02/12)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống tinh thần hiệp hành “một đi chung cùng nhau” (DN 150) trong đời sống cộng đoàn, theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (29/10)
-
Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống tinh thần "Ad majorem Dei gloriam" theo gương Cha tổ phụ Biển Đức Thuận (16/09)
-
Lao động trong đời sống đan tu (08/01)
























