Suy niệm

Suy niệm Tin Mừng Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, C: CHÚA GIÊSU KHAI MỞ SỨ MẠNG CỨU ĐỘ NHÂN LOẠI

Giáo hội mừng kính lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, đây là bầu khí long trọng vì là thời khắc Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng về Nước Thiên Chúa, đồng thời Chúa Giêsu khai mở về con đường cứu độ nhân loại.

 

 

 

CHÚA GIÊSU KHAI MỞ SỨ MẠNG CỨU ĐỘ NHÂN LOẠI

(Lc 3,15-16.21-22)

 

 

M. Anrê Tường

 

Giáo hội đã cùng nhau hân hoan mừng biến cố trọng đại Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người giữa nhân loại, để sống kiếp phàm nhân như mọi người, ngoại trừ tội lỗi. Và Chúa nhật hôm nay, Giáo hội mừng kính lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, đây là bầu khí long trọng vì là thời khắc Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng về Nước Thiên Chúa, đồng thời Chúa Giêsu khai mở về con đường cứu độ nhân loại.

 

1. Chúa Giêsu hòa mình giữa nhân loại

 

Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa tự mặc khải cho con người: Ngài là Ðấng sáng tạo và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời, thánh Gioan tông đồ đã xác tín như thế (x. Ga 1,3). Vì muốn mở đường cứu độ cao trọng nên từ đầu Thiên Chúa tỏ mình ra cho tổ tông loài người. Chính vì vậy, Thiên Chúa đã mời ông bà nguyên tổ sống kết hiệp mật thiết với Người, khi ban cho họ ân sủng và đức công chính rạng ngời[1]. Tuy nhiên, vì thân phận mỏng giòn yếu đuối của kiếp người, ông bà nguyên tổ đã bất tuân phục Thiên Chúa, nên đã đánh mất hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa. Kể từ đó, con người bị liên lụy và rơi vào cảnh tội lỗi. Bởi thế, con người mong ước một Đấng đến để giải thoát họ khỏi cảnh lầm than.

 

Thế nên, dân Israel luôn trong trạng thái mong đợi, khao khát Đấng đến giải cứu họ. Khi thấy Gioan Tẩy Giả làm phép rửa, họ tưởng ông là Đấng Messia. Tuy nhiên, ông Gioan Tẩy Giả rất chân thật khiêm tốn khẳng định rằng, Đấng đến sau tôi mới chính là Đấng cứu độ, vì tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Đấng cứu độ sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và lửa. Quả thực, khi Đức Giêsu chịu phép rửa và lên khỏi dòng nước, trời mở ra và có tiếng phán từ Chúa Cha: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,16).

 

Như vậy, Thiên Chúa dù biết con người phạm tội, nhưng Người không bỏ mặc, đã yêu thương trọn vẹn khi ban tặng Con Một đến giải cứu loài người. Chính vì thế, thánh Phaolô tông đồ, trong thư gửi cho ông Titô đã minh định rằng, vì chúng ta, người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện. Ngài nói tiếp, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời như chúng ta vẫn hy vọng (x. Tt 2,1-8.11-14).

 

Quả thật, khi bước xuống dòng sông Giođan để chịu Phép Rửa, Chúa Giêsu tỏ mình ra Người không chỉ là Đấng đã đến sống giữa con người, mà còn là Đấng sống cho con người bằng cách đón nhận vào mình tất cả, để trọn vẹn liên đới với con người về mọi phương diện, kể cả mặt yếu đuối tăm tối đớn hèn nhất là thân phận tội nhân. Người là Tôi Tớ của Giavê đã tự nguyện gánh tội trần gian, đã tự hạ chịu hết mọi nỗi đau của toàn thể dân mình, mặc dầu chẳng vướng tội nhơ (x. Dt 4,15). Người đã nhẫn nhục cúi xuống lãnh nhận Phép Rửa thống hối chỉ vì muốn liên đới đến tận cùng với mọi tội nhân.

 

Thật vậy, nhờ sự vâng phục của Chúa Giêsu với Chúa Cha, để từ đó tầng trời mở ra, vì ngày xưa do nguyên tổ bất phục sa ngã phạm tội mà ơn cứu độ đã khép lại. Bởi thế, Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha đã hòa mình vào đám người tội lỗi để được thanh tẩy, vì Người liên đới với con người trong thân phận tội lỗi. Như thế, không hạnh phúc nào hơn khi chúng ta được liên đới với Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, đó là được lãnh nhận ân huệ thánh hóa và sự sống, do đó mọi Kitô phải có trách nhiệm sống chứng tá cho Thiên Chúa.

 

2. Kitô hữu sống chứng tá khi đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội

 

Ngày xưa khi Chúa Giêsu bước xuống dòng sông Giođan, Người đã thanh tẩy dòng nước đó, thì nhờ ân sủng của Bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và được trở nên chi thể trong Thân thể Mầu nhiệm của Người là Giáo hội, mang trong mình Chúa Kitô, và là “công dân” của vương quốc thánh chuyên lo việc tế tự. Thánh Phêrô xác tín rằng: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa; xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa” (1Pr 2,9-10).

 

Bởi vậy, Giáo hội không ngừng thi hành lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy” (Mt 28,19-20); do đó, Giáo hội luôn mời gọi con cái mình ý thức được trách nhiệm đem ơn cứ độ đến cho mọi người. Cho nên, khi lãnh nhận Phép Rửa, chúng ta mang sự sống mới là ân sủng thì chúng ta phải phấn đấu sống xứng đáng với hồng ân đó.

 

Như thế, vai trò chứng tá của Kitô hữu không chỉ là thi hành công việc tông đồ, nhưng còn phải trở nên nhân chứng huy hoàng và có sức thuyết phục giữa việc rao giảng Lời Chúa và cuộc sống thường nhật bằng sự phục vụ tha nhân, để thăng tiến con người. Bổn phận này, không ai có thể thay thế được, mà mỗi Kitô hữu hãy tự ý thức sống chứng nhân Tin Mừng, để qua đó, Giáo hội hiện diện và thực thi được sứ mạng mà Chúa Giêsu đã uỷ thác[2], vì Chúa phán: Sự sáng các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời (Mt 5,16). Điều này nói lên tính cách đặc trưng của Kitô hữu, là thông phần vào sứ mạng ngôn sứ của Chúa Kitô, trở thành chứng nhân thực sự trung tín (Kh 1,5). Để được trở thành con yêu dấu như mẫu gương của Chúa Giêsu là người Tôi Trung tìm ý Thiên Chúa khi chu toàn sứ mạng được trao phó. Amen.

        

 

 _________________________

 

[1] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, HĐGMVN - Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin dịch,  Nxb Tôn Giáo, 2010, số 54.

[2] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Christifideles Laici (Kitô hữu giáo dân) (30/12/1988), số 15.