Suy niệm

Suy niệm Tin Mừng CN XXV TN, B: CON NGƯỜI BỊ NỘP VÀO TAY NGƯỜI ĐỜI

“Con Người bị nộp vào tay người đời” (c.31), mạc khải cho các môn đệ cũng như chúng ta một khía cạnh vô cùng quý giá của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu: cuộc khổ nạn này đúc kết và hoàn tất trọn hảo nỗi đau khổ của những người công chính, của các vị tử đạo, của các ngôn sứ.

 

 

CON NGƯỜI BỊ NỘP VÀO TAY NGƯỜI ĐỜI

(Mc 9,30-37)

 

Sỹ Thọ

 

 

Tại sao Con Một Thiên Chúa lại bị nộp trong tay người đời? Trong khi đó, Thiên Chúa là Đấng có quyền phép, muốn làm gì là Chúa làm nên? Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô được truyền rao cho nhân loại là một thứ Tin Mừng Tình yêu! Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban Con Một đến cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu là hiện thân Tình yêu Thiên Chúa, đã “bị trao nộp” cho chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân. Con Người ngự trên tòa uy linh cao cả còn muốn hạ thân xuống làm người phàm, làm một con người rốt hết; huống hồ chúng ta là người phàm, con người thấp kém… chúng ta muốn như thế nào?

 

“Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm con người rốt hết và phải phục vụ mọi người” (c.35). Đây là lời giáo huấn của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, nhưng cũng là lời mời gọi những ai bước theo chân Chúa. Ai theo Chúa là dám chọn chén đắng, dám dấn thân phục vụ, dám chọn chỗ rốt hết. Chúa Giêsu đã tự hạ mình xuống mặc lấy thân xác nô nệ thấp hèn nhất, nghèo khó nhất, chịu chết một cách nhục nhã nhất… để chuộc lấy những ai hèn mọn, khổ nhục, nghèo khó, nâng họ lên phẩm giá cao trọng trong Vương Quốc của Người.

 

Ba lời loan báo khổ nạn của Chúa Giêsu, thánh sử Marcô đều ghi khắc trên con đường của Thầy trò từ Galilê lên Giêrusalem. Lời loan báo lần thứ hai này cũng đã gây không khí ảm đạm cho các môn đệ. Vì thường tình, chẳng ai muốn Thầy mình phải chịu đau khổ, chịu chết. Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện cách đích thực ý định của Thiên Chúa và mạc khải dứt khoát bản thân và cùng công việc của Người trong công cuộc cứu chuộc, trên con đường khổ giá, đưa đến cái chết[1]. Đó là lý do Người tuyên bố cho các Tông đồ.

 

Con Người bị nộp vào tay người đời

 

Mệnh đề “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”, ta thấy có động từ “bị nộp”. Tại sao Con Người lại “bị trao nộp” vào tay người đời? Một Thiên Chúa lại phải chịu khuất phục bởi tay người đời? Một Thiên Chúa lại phải chịu xuôi tay cho người đời bắt bớ, đánh đập, rồi bị giết chết, chết một cách nhục nhã trên thập giá? Một Thiên Chúa bị bêu diếu trên cây thập giá cho mọi người chế diễu, nhạo báng?

 

Khi chúng ta yêu một người nào đó thực sự, chúng ta có thể “trao những gì mình có” cho họ. Thiên Chúa là tình yêu, đến Con Một của Người, Người cũng đã trao ban con người. Chúa Giêsu, hiện thân tình yêu của Thiên Chúa, đã “bằng lòng thực hiện ý định trao phó của Thiên Chúa” cho người đời. Người “chịu trao nộp” cho người đời, chịu thân phận một con người rốt hết, chịu đau khổ nhục nhã đến tột cùng của kiếp người. Chính vì công nghiệp có một không hai đó mà Người được Chúa Cha tuyên dương, tôn vinh, cho Người sống lại sau ba ngày từ cõi chết (c. 31).

 

“Bị trao nộp” là một động từ “bị động”, xét theo ý nghĩa hy tế, có thể chuyển thành “chủ động” trong công trình cứu độ của Thiên Chúa; trong sự “tự nguyện” hy sinh, “bằng lòng” chịu chết để cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu (x. Is 53). Còn trên bình diện phản bội của Giuđa, Chúa Giêsu vẫn khiển trách ông trước mặt Philatô: “Kẻ nộp Tôi cho ông thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19,11), “khốn cho kẻ làm cho Con Người bị nộp” (Mc 14,21). Tuy nhiên, ngữ điệu thụ động của lời loan báo thứ hai này là một cách ám chỉ hoạt động trong công trình cứu độ của Thiên Chúa; thành ra chúng ta phải hiểu: Thiên Chúa sắp nộp Con Người cho người đời.

 

“Con Người bị nộp vào tay người đời” (c.31), mạc khải cho các môn đệ cũng như chúng ta một khía cạnh vô cùng quý giá của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu: cuộc khổ nạn này đúc kết và hoàn tất trọn hảo nỗi đau khổ của những người công chính, của các vị tử đạo, của các ngôn sứ. Khi chúng ta đặt niềm tin về sự “tự nguyện” hy sinh làm lễ tế, để cứu độ của Chúa Giêsu trên những giá trị của thế gian, chúng ta có thể thay thế được hạn từ bị động sang hạn từ chủ động: bị trao nộp giờ có thể trở thành được trao nộp, một hạn từ tích cực của sự “tự nguyện”, sự “bằng lòng”; tự nguyện hy sinh thân mình, bằng lòng chịu chết bởi tay người đời, một cái chết trở thành một quà tặng, một cái chết đầy hương thơm như hương tỏa ra từ cây mộc dược theo chiếc rìu bổ chúng!

 

“Con Người đã sống lại sau ba ngày sau khi khi bị giết”, điều đó cho thấy, dù hoàn cảnh thế nào thì nó cũng không đảo lộn được viễn tượng: ác thắng thiện. “Con Người bị nộp” từ đây không còn là một ô nhục hay cớ vấp phạm cho nhiều người nữa, nhưng là sự biểu dương chính mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa trên những phương thế cứu độ lạ lùng này.

 

Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người

 

Xã hội cổ thời và đặc biệt xã hội Do Thái đã chi phối mạnh mẽ trong đẳng cấp giữa con người với con người. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi Giáo hội sơ khai vấp phải những khó khăn; quan niệm về hình thức chức tước bên ngoài như Tin Mừng đề cập. Vì có những dư âm của những cuộc tranh luận chỗ nhất hoặc ai lớn nhất trong cộng đoàn sơ khai về chức phẩm của các sứ đồ (x. Ga 21; 1Cr 1-4), mà vấn đề mới trở nên quan trọng giữa cuộc huấn giáo của Chúa Giêsu cho riêng nhóm Tông đồ. Tình hình có xu hướng xấu này, xu hướng tìm danh dự và phẩm chức trong những việc cử hành giờ thánh, cử hành Thánh Thể, giữa trung tâm bữa tiệc ly (Gc 2,1-4) đã làm cho giờ phụng vụ trở nên một cuộc trưng bày sự vật, biểu trưng quyền lực. Điều này được xác nhận qua giai thoại về lời cầu xin của hai con Dêbêđê (Mc 10,35-40). Chúa Giêsu khẩn thiết mời gọi nhóm Tông đồ đi theo Người: trong khiêm nhường và phục vụ (x. Lc 9,48b; Mc 10,43.44)[2]. Đây là yếu tố hàng đầu của những bước chân sứ giả rao giảng và thực hành Tin Mừng Nước Chúa. Trong Nước Chúa có đủ những con người hèn mọn, nhỏ bé, đui què, mẻ sứt, nghèo hèn, khốn khổ, người bị gạt bên lề xã hội, kẻ bị coi thường, phụ nữ cũng như trẻ em…

 

Kinh Thánh đã có những giai thoại mô tả các môn đồ la rầy các trẻ nhỏ đến với Chúa Giêsu; điều các môn đồ ngạc nhiên là chúng được Chúa Giêsu lưu tâm và mau mắn đón tiếp chúng (x. Mc 10,13-16). Trẻ nhỏ không mấy có chỗ đứng trong xã hội thời Chúa Giêsu. Trong ngữ cảnh của Tin Mừng hôm nay, trẻ nhỏ là điển hình của sự không quan trọng, không đáng kể, không đáng lưu ý. Người đời khinh thường trẻ nhỏ và đã kéo theo những thứ bị coi thường khác như người nghèo, hạng thu thuế, gái điếm… Việc Chúa Giêsu quan tâm đến những con người nhỏ bé, thấp cổ bé miệng… đó là Người muốn mặc khải cho các Tông đồ của Người về một Vương Quốc được trao ban cách nhưng không cho tất cả những gì bị bỏ rơi, bị khinh bỉ, bị gạt bên lề xã hội... Lời mời dự tiệc trong Nước Thiên Chúa được dành cho kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, cho tất cả nhưng ai không có gì để trả lại (Lc 14,13-14.21). Đó là ý nghĩa nguyên sơ của cử chỉ Chúa Giêsu đem em nhỏ đặt giữa các Tông đồ (x. Mc 14, 10)[3].

 

Giáo huấn của Chúa Giêsu về việc tiếp đón trẻ nhỏ bao hàm lời mời gọi về sự đồng hóa Người với chúng. Người mời gọi các Tông đồ: “Đón tiếp em nhỏ vì danh Thầy như là đón tiếp Thầy” (c. 37). Việc đón tiếp trẻ nhỏ ở đây là đón một cách cụ thể, thu nhận chúng như thu nhận những đứa trẻ bị bỏ rơi, mồ côi, khó nghèo. Lo lắng cho chúng, là một công việc bái ái phải được lề luật khuyến khích và được thực hành trong Do Thái giáo. Chúa Giêsu muốn kiện toàn luật này lên tầm quan trọng và Người muốn đặt mình trong cương vị của chúng: “Chính vì danh Thầy mà người đời tiếp đón chúng”, “đón tiếp em nhỏ là đón tiếp chính Thầy”. Thái độ Chúa Giêsu đồng hóa Người với trẻ nhỏ hôm nay, là Người đã hoàn tất việc mạc khải về Thiên Chúa như Đấng bênh vực người nghèo khó, như Cha kẻ mồ côi (Tv 68,6). Và đúng như trong sự tương quan mật thiết của Người với Chúa Cha, Người đã dạy các Tông đồ: “Ai đón tiếp Thầy, thì không phải là đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (c.37).

 

Chủ ý của thánh Marcô viết, con đường khổ nạn nhiệm mầu của Thiên Chúa được mạc khải trong bí mật; người đời khó mà hiểu được, đến các Tông đồ của Người cũng không thể hiểu và đã gây ra hoang mang. Đường khổ nạn của Chúa Giêsu luôn là sự nghịch lý, khó hiểu và gây ra nhiều tranh cãi. Chính vì thế mà các Tông đồ do dự khi phải đối diện với câu hỏi của Chúa Giêsu: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (c.33). Tuy nhiên, chính con đường tự hạ, con đường thập giá chẳng mấy ai đi này mà Chúa Giêsu đã làm nên công nghiệp vĩ đại chưa từng có ở đất nước Do Thái. Con đường đã tạo nên sân khấu cho sự thi hành thánh ý, cho hành trình của Chúa Giêsu tiến đến số phận và chính con đường dấn thân chịu khổ hình này đã tạo nên bầu khí ảm đạm cho các môn đệ đối với Chúa Giêsu; họ không muốn Chúa Giêsu phải chịu như thế. Thành ra, bạn đường của Chúa Giêsu phải là những con người luôn sẵn sàng loan báo lời Chúa Giêsu, chấp nhận thử thách gian nan một cách mau mắn và vui vẻ, hầu mới theo được Chúa Giêsu trên con đường khổ nạn này.

 

Chủ ý thứ hai là về nhà: thánh Marcô muốn xây dựng trên sự thân tình giữa Chúa Giêsu và các Tông đồ trong một cái nhà của mình ở Capharnaum; nhà là nơi nói chuyện gia đình, chuyện riêng tư, chuyện tế nhị. Chuyện cái ghế, chuyện ai là kẻ đứng đầu, ai là kẻ cuối hết… đáng ra không có nơi các Tông đồ. Thế mà đã có. Các Tông đồ đã được khai tâm, để sống thái độ tôi tớ trong gia đình Chúa. Trong một cộng đoàn như thế, Tông đồ Chúa sẽ học cách thay thế cho những ưu tư “lo lắng chỗ đứng, chỗ đầu, cuối của mình”; đó là những mối gây chia rẽ, bất hòa, bất thuận, thay vào đó bằng việc kiếm tìm chỗ rốt hết là phương thế tạo mối bình an, là sự chấp nhận con đường tự hạ, con đường thập giá Chúa Giêsu. Có được sự chấp nhận một cách vui vẻ nơi “chỗ đứng cuối hết” như thế, thì người môn đệ theo Chúa mới cảm thấy nhẹ nhõm, không còn ganh tị, đua tranh chỗ nhất nữa, nhưng một mực vác thập giá lên núi sọ cùng với Chúa Giêsu.

 

Lời loan báo “Con Người bị trao nộp trong tay người đời” và lời giáo huấn “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải phục vụ mọi người” của Chúa Giêsu trong Tin Mừng đã toát lên trong bài thánh ca: “Chúa Giêsu đã tự khiêm tự hạ, hủy mình ra không, đội lốt người phàm, lĩnh lấy thân thận tôi đòi. Người đã hạ mình xuống làm một con người thấp hèn nhất, trở thành vâng phục cho đến chết, chết một cách nhục nhã nhất trên thập giá. Bởi vậy mà Người được tôn vinh…” (Pl 2, 6-11).

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn giải tỏa con người trên bình diện cơ cấu phẩm trật, đề cao chức tước trong xã hội cũng như ngay cả các chức sắc trong Giáo hội. Đi xa hơn, Người muốn cải hóa tận sâu tâm khảm của con người, giải thoát khỏi những ham muốn thế tục, ghen tương, vị kỷ thấp hèn… Con đường giải thoát này là con đường thập giá, con đường tự hạ: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”; điều này thực sự rất khó đối với con người trần bằng xương bằng thịt. Nhưng, cậy nhờ ơn Chúa, con người có thể cải biến được, giải thoát được những bức tường rào vô vị lợi. Từ đó con người có thể dễ dàng tiếp cận và đem công bằng cho những hạng người nhỏ bé trong xã hội, người nghèo khổ, kẻ mồ côi góa bụa cô thân cô thế, những người cùng cực không có gì để hoàn trả…

 

“Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Xin Chúa cho chúng con đừng bàn tán những điều không thích hợp, nhưng hãy nói những lời sinh ích cho người nghe, lời của Thiên Chúa yêu thương, lời của Thiên Chúa cứu độ.

 

Xin cho chúng con mau mắn nghe theo và thực thực hành Lời Chúa Giêsu dạy, không như các Tông đồ buồn bã vì đã nghe lời loan báo cuộc khổ hình của Người.

 

Xin Chúa cũng cố niềm tin và cho chúng con vượt thắng những ham muốn địa vị trần thế mà chọn cho mình một chỗ thấp kém theo tinh thần Tin Mừng, để tâm hồn được thanh thoát, trọn một bề phụng sự tôn vinh Thiên Chúa ở đời này và đời sau được Thiên Chúa cho hưởng phúc vinh muôn đời. Amen!

 

 

 

 ______________________

 

[1]  x. Suy niệm theo Học Viện Piô X, Chúa Nhật 25 quanh năm, B

[2] x. Suy niệm Tin mừng theo Học Viện Piô X, Tin Mừng quanh năm, Chúa Nhật 25.

[3] x. Suy niệm Tin mừng theo Học Viện Pio X, Tin Mừng quanh năm, Chúa Nhật 25.