Suy niệm

Chúa nhật XIV Thường Niên, năm B: "Đức Giê-su trở về thăm quê" (Pet. Bình)

Mỗi khi con người khép kín lại với Thiên Chúa, khi Người đang ngỏ với họ trong phép lạ, thì phép lạ trở thành chuyện phi lý.

 

Mc 6,1-6

"Đức Giê-su trở vthăm quê"

Có nhiều nơi để đến, nhiều chỗ để đi, và dù có đi muôn phương ngàn lối, nhưng ai cũng chỉ có một chốn để về, đó là quê hương. Đức Giê-su sau những ngày bôn ba khắp làng mạc, ngỏ ngách để rao giảng Nước Trời, làm phép lạ, chữa bệnh cho dân chúng, nay Người trở về quê hương, nơi đã từng gắn bó với tuổi thơ của Người. Thế nhưng, lần trở về này không được như Người mong đợi, dân làng Na-za-ret đã không đón nhận Người, và khước từ những lời giảng dạy của Người. Bởi vậy, Chúa Giê-su đã thốt lên: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình” (Mc 6,4a). Tại sao dân làng Na-da-rét không tin vào Chúa Giê-su?

Dân làng Na-da-rét, họ là người gốc Do-thái. Thời bấy giờ, người Do-thái đang mong đợi Đấng Me-si-a của lời hứa, được mặc khải trong Kinh Thánh. Người Do-thái quan niệm rằng Đấng Me-si-a sẽ đột ngột xuất hiện. Nhiều người tin rằng Chúa Cứu thế sẽ sinh ở một nơi bí mật trên cõi thế. Và sau những ngày ẩn dật, Người sẽ đột ngột xuất hiện một cách uy hùng. Họ tin Người sẽ là một người lỗi lạc và siêu việt. Là con cháu vua Đa-vit, Người sẽ phục hưng nền độc lập quốc gia. Người sẽ mở rộng bờ cõi nước trời. Nước trời đây, người Do-thái hiểu về phương diện tôn giáo và chính trị. Đó là một kỷ nguyên hoà bình và hạnh phúc. Đó là một thời đại vô cùng phồn thịnh về vật chất cũng như tinh thần.

Thế nhưng, khi Đức Giê-su xuất hiện, và trở về quê hương, tức là Na-da-rét. Người giảng dạy như một Đấng uy quyền, khiến dân chúng trầm trồ hỏi nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế? Một cách nào đó, họ đã nhận ra được uy quyền của Đức Giê-su. Tuy nhiên, họ không tin đó là Đấng Me-si-a mà họ mong đợi. Bởi vì, sự xuất hiện của Đức Giê-su không giống như Đấng Me-si-a mà họ quan niệm. Hơn nữa, họ quá biết rõ về gia thế của Chúa Giê-su (x. Mc 6,3). Từ đó, họ có thành kiến về Chúa Giê-su và nảy sinh thái độ cứng lòng tin, và khước từ lời giáo huấn của Người.

Qua thái độ cứng lòng tin và khước từ Chúa Giê-su của dân làng Na-da-rét, Chúa Giê-su mới nói: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình”  (Mc 6,4a). Đó là câu ngạn ngữ của người Do-thái được Đức Giê-su nhắc lại để nói về sự khước từ của họ. Thật vậy, trong thời Cựu Ước, các ngôn sứ là những người nói lời Thiên Chúa cho dân, nhưng không được dân đón nhận, và còn bị bắt và giết đi. Số phận của các ngôn sứ trong thời Cựu Ước cũng là điềm báo cho số phận của Đức Giê-su. Người bị chính dân Người chối bỏ, giết chết bằng cách đóng đinh trên Thập Giá.

Như vậy, người Do-thái đã đánh mất ân huệ của Thiên Chúa, khi khước từ Đức Giê-su. Qua Chúa Giê-su, Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người và ban các ân huệ dồi dào. Chỉ vì thái độ cứng lòng tin của những người đồng hương mà Chúa Giê-su không làm phép lạ ở quê nhà. Sự kiện Người không làm phép lạ nào ở quê hương cho thấy tương quan giữa phép lạ và đức tin. Để nhận biết và đón nhận các phép lạ cần phải có đức tin. Như có lần Chúa Giê-su đã nói: “Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mc 5,34). Hay nói cách khác, để phép lạ xảy ra thì phải có quyền năng của Thiên Chúa và đức tin đón nhận của con người. Mỗi khi con người khép kín lại với Thiên Chúa, khi Người đang ngỏ với họ trong phép lạ, thì phép lạ trở thành chuyện phi lý.

Tóm lại, với quan niệm sai lầm về Đấng Thiên Sai và óc thành kiến của dân làng Na-da-rét đã bịt mắt họ lại, không nhận ra Chúa Giê-su, một con người tầm thường đã từng sống giữa họ, với họ và gần họ. Họ không tin vào Chúa Giê-su, nên đã tự đánh mất ân huệ lớn lao là ơn cứu độ của Người. Qua đó, chúng ta thấy, Đức Giê-su là đối tượng duy nhất của đức tin. Chỉ đức tin mới nhận biết nguồn gốc đích thực của Đức Giê-su. Người là Con Thiên Chúa. Đức tin giúp con người có sự khiêm tốn và sẵn sàng lắng nghe giáo huấn của Thiên Chúa. Cũng chính đức tin giúp người ta nhận biết các phép lạ kỳ diệu của Thiên Chúa đã và vẫn đang làm trong thế giới, để ban ơn cứu độ cho mọi người.

M. Phêrô Bình