Linh đạo

ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG THEO THÁNH PHỤ BIỂN ĐỨC (5)

Bậc khiêm nhường thứ năm dường như nhấn mạnh nhiều về viện phụ hơn là những đan sinh, tuy nhiên, có một sự liên hệ ở đây, mỗi một đan sinh cũng chính là viện phụ trên chính cuộc đời mình, một thái độ cởi mở và đón nhận người khác luôn là điều Cha Thánh muốn nhắn gửi tới các đan sinh.

 

 

 

VIỆC TỎ BÀY TÂM HỒN

THEO QUAN ĐIỂM CỦA GIÁO HỘI VÀ THÁNH BIỂN ĐỨC

 

 

M. Louis Martin Nguyễn Trung Chất

 

Theo thánh Biển Đức, bậc khiêm nhường thứ năm là hãy lấy lòng khiêm nhường mà thành thật bày tỏ cùng viện phụ mọi ý tưởng xấu xa đột nhập vào lòng và những lỗi thầm kín (TL 7,44). Liệu đó có phải là một sự khiêm nhường hay là một sự nhu nhược? Bởi rằng có ai khôn ngoan mà lại tiết lộ cho người khác biết những lỗi thầm kín, những yếu kém của mình để rồi bị nắm thóp, bị khinh chê...? Quả thực cơ chế tự vệ của con người được lập trình phản xạ một cách tự nhiên giúp người ta tránh đi những mối nguy, những điều bất lợi cho mình, từ hiệu quả của cơ chế đó làm cho người ta thích được khen ngợi hơn là chê bai khiển trách, thích được thong dong thoải mái hơn là phải cực nhọc vất vả. Chính trong thực tế cũng thế, người ta cố loại trừ tất cả những mầm mống nguy hại cho mình, và việc che dấu những yếu điểm, những lỗi thầm kín nơi bản thân là một trong số đó. Vậy những quan điểm dường như đối lập hoàn toàn với bản năng tự nhiên của con người, với lối suy nghĩ của người đời của thánh Biển Đức được phát xuất từ đâu hay là chỉ là một cảm hứng ngẫu nhiên của thánh phụ? Và Hội Thánh nói gì về việc tỏ bày tâm hồn này?

 

Trước hết với Giáo Hội, việc tỏ bày tâm hồn cho Thiên Chúa hay cho một nhân vật khác đã được nhắc đến trong Kinh Thánh. Quả vậy sách Lêvi kể lại việc “vị tư tế đặt hai tay lên đầu con dê, rồi xưng thú trên nó tất cả lỗi lầm của toàn dân hay còn gọi là động tác xưng mọi tội lỗi của cả dân sự. Ông này trút tất cả những tội lỗi đó lên mình con dê gánh tội” (Lv 16,21-22). Các Vịnh gia cũng nói: “Con hãy bộc lộ đường lối con đi và trông cậy nơi Ngài” (Tv 36,5). Lại nữa, “bởi thế con đã xưng tội con ra với Ngài, con chẳng dấu Ngài về lỗi lầm của con” (Tv 31,5). Có thể hiểu đó như là nền tảng của bí tích giải tội mà sau này được Đức Giêsu thiết lập (Ga 20,22-23). Qua bí tích giải tội, con người được làm hoà với Thiên Chúa qua trung gian là vị linh mục, việc linh hướng cũng là một cách thức để người Kitô hữu tỏ bày những yếu đuối sai sót của mình. Đó là điều cần thiết, thế nên Giáo Hội “buộc các tín hữu phải thực hành ít là một lần trong một năm” (GL 989), riêng về các tu sĩ hay chủng sinh thì “khuyên xưng tội hay việc gặp các vị linh hướng là thường xuyên” (GL 719). Các nhà tu đức nói về sự thường xuyên đó có thể là một tuần một lần. Như thế khởi đi từ truyền thống của tiền nhân và được Giáo Hội tiếp nhận thành một cách thế để các tín hữu được giao hoà với Chúa, việc tỏ bày tâm hồn cho vị linh hướng là một điều hết sức cần thiết với người Kitô hữu nói chung và các đan sĩ nói riêng.

 

Vậy thánh Biển Đức nói tới vấn đề ấy như thế nào?

 

Hãy lấy lòng khiêm nhường mà thành thật bày tỏ cùng viện phụ mọi ý tưởng xấu xa đột nhập vào lòng và những lỗi thầm kín” (TL 7,44). Ở đây việc lột tả tâm hồn cho vị linh hướng không chỉ đơn thuần là một cách thế để người đan sĩ làm hoà với Thiên Chúa sau những sai lỗi mà đó còn là một cách thức thể hiện sự khiêm nhường nơi họ.

 

Thật vậy, đan viện là nơi tập hợp những con người có cùng chí hướng, cùng một mục đích là trở nên hoàn thiện theo gương Đức Giêsu, họ ở với nhau và ra sức nâng đỡ nhau cùng tiến trên con đường đến sự thiện hảo. Và việc tỏ bày cho vị linh hướng những yếu điểm của mình trước hết không gì khác là để người người tu sĩ được thong dong, được nhận lại những lời khuyên và đặc biệt là được vị linh hướng cầu nguyện cho. Sau nữa là để người đan sĩ nhận ra mình yếu đuối, bất toàn, không thể tự mình chu toàn luật Chúa hay những đòi buộc của đời tu mà nhất thiết phải cần đến ơn Chúa, cần đến sự giúp đỡ của những anh em cùng song hành với mình.

 

Nếu trên lý thuyết người ta có thể hiểu là thế nhưng trong thực tế đó là một vấn đề. Quả thật ngày nay có rất ít người đủ tài đức, có chiều sâu nội tâm và một tâm hồn luôn hướng về Chúa qua những người anh em, để họ săn sàng nâng đỡ, tìm mọi phương thế dẫn những người anh em đi trên đường tìm kiếm Đấng Thiện Hảo. Trái lại, vì một số lý do đặc thù, trong đời sống cộng đoàn đan tu trước hết viện phụ là vị linh hướng của cộng đoàn theo tu luật và sau nữa ngài có thể chọn một số người có khả năng, song tất cả những người ấy đều cùng ăn, cùng uống, cùng sống với nhau nên khó tránh khỏi việc lộ tẩy những yếu đuối của anh em đã tỏ bày với người ấy.

 

Việc linh hướng sẽ trở nên khó khăn vì những người được linh hướng không có đủ niềm tin, hay luôn có tâm thức vị kia cũng chẳng hơn mình, tại sao mình lại phải nghe họ? Nói như thế không phải để ta bó tay trước những vấn nạn sống như lời thánh phụ, chúng ta hãy lấy lòng khiêm nhường mà tỏ cho viện phụ tức là vị linh hướng những lỗi thầm kín và những ý muốn xấu xa. Nếu không có khiêm nhường, người đan sĩ với bản tính tự nhiên, chẳng thể tỏ bày cùng vị linh hướng điều thầm kín của mình được, bởi họ cũng là con người, cũng sợ có những lo âu, rắc rối, và thích được thong dong, thoải mái. Như thế, chính sự khiêm nhường là động lực thúc đẩy để người đan sĩ có đủ can đảm tỏ lộ cho vị linh hướng, có thể ví sự khiêm nhường như men rượu, nó làm người ta có đủ tự tin mà nói ra những lời khó nói trong lòng. Quả thật, sự khiêm nhường giúp người ta có đủ khả năng để làm điều đó, bởi người khiêm nhường luôn nhận thấy nơi mình sự yếu kém, đồng thời cũng thông cảm cho người khác vì họ cũng là phận người yếu đuối; sự khiêm nhường làm cho người ta hạ mình mà đón nhận những thứ hèn kém nhất và luôn tâm niệm rằng trước Thiên Chúa chính mình chỉ đáng được những thứ hèn kém đó.

 

Như thế, bí tích giải tội hay nói cách khác là việc thú nhận những lỗi lầm cho Chúa và làm hoà với Người qua trung gian vị linh mục được đặt nền tảng trên truyền thống của Cựu Ước và là bí tích mà Chúa Giêsu đã thiết lập. Giáo Hội khẳng định tầm quan trọng và cần thiết của bí tích ấy đối với đời sống tâm linh của các Kitô Hữu, cách riêng với những người sống đời thánh hiến. Đặc biệt nơi thánh Biển Đức, bí tích giải tội không chỉ là phương thế để các đan sĩ làm hoà với Thiên Chúa mà đó còn là dấu chỉ của một tâm hồn khiêm nhường nhận biết thân phận yếu đuối bất toàn. Đan sĩ “bày tỏ với viện phụ mọi ý tưởng xấu xa đột nhập vào lòng và những lỗi lầm thầm kín” (TL 7,44) để mong ngài như vị lương y chữa lành những bệnh tật, yếu đuối; như vị thầy uyên thâm và từng trải chỉ cho học trò những cách thế vượt qua, dạy cho môn sinh những phương cách tu tập, để nhờ đó họ tiến nhanh trên con đường hoàn thiện và từng bước trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (Rm 8,29; Pl 3,10), đỉnh cao của đời người đan sĩ cần đạt tới.

 

 

 

 

ĐÓN NHẬN NGƯỜI KHÁC NHƯ ĐỨC KITÔ

 

 

M. Gioan Berchmans Nguyễn Chí Mỹ

 

Một lối sống riêng rẽ, tách biệt luôn làm cho nhiều người có cảm giác cô đơn, cô độc, trái lại, một người sống hòa đồng, hội nhập với cộng đồng luôn có nhiều niềm vui, hạnh phúc. Quả vậy, con người khi sinh ra vốn đã mang nơi mình xã hội tính, tức luôn có những mối tương quan giữa mình với tha nhân, với thế giới. Vì thế, khi sống giữa xã hội loài người, hầu như ai cũng muốn được chia sẻ, được cảm thông và yêu thương.

 

Tuy nhiên, tính chất phức tạp nơi đời sống xã hội, cùng với tính cách khác biệt nơi từng cá nhân khiến cho nhiều người dễ rơi và tình trạng «cô đơn». Đời sống xã hội ngày nay đầy những lừa lọc, giả dối dần làm cho con người mất đi sự chân thành đối với tha nhân. Những ước ao đầy «bí ẩn» nơi mỗi cá nhân cũng khiến họ sống trong lo sợ, cố gắng che đậy tất cả những gì không tốt nơi bản thân. Những thực trạng trên đã mang đến những hậu quả khó lường. Đặc biệt, nó đã và đang làm cho nhiều người đóng khung cuộc sống của mình trong một môi trường riêng rẽ. Bậc khiêm nhường thứ năm nơi Tu luật thánh phụ Biển Đức như một «nút thắt» được mở ra để mỗi đan sĩ có thể mở lòng ra với Chúa và với tha nhân, chính việc tháo gỡ ấy sẽ giúp mỗi người lớn lên hơn nữa trong khi thực hành đức vâng lời.

 

Đời sống đan tu nơi các đan viện luôn thật an nhàn thư thái. Bất cứ một sinh hoạt nào nơi người đan sĩ đều chậm rãi, thong dong, không hồ hởi, vồ vập như những con sóng ngoài biển khơi, nhưng luôn êm đềm, nhẹ nhàng, một nhịp sống như thế. Thiết nghĩ mấy ông thầy chiêm niệm có lẽ là những người bình an nhất quả đất này! Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn ở khía cạnh khách quan thì không thể nào kiểm chứng được ai đó có thực sự bình an hay không. Bởi thực ra, đời sống cộng đoàn nơi mỗi đan viện cũng như một xã hội thu nhỏ, vẫn luôn có những khó khăn, những áp lực và bất an. Khi đã dấn thân vào đời sống đan tu chiêm niệm thì mỗi người đan sĩ đều sẽ phải đối diện. Trong đời sống cộng đoàn, với một khoảng thời gian sống chung, hầu như tất cả mọi vấn đề đều có thể tỏ lộ ra, tuy không phải là tất cả, nhưng với thời gian, chính bản thân mỗi người sẽ dần hình thành thói quen che đậy đi cách sống của mình, những cảm giác ngượng ngùng, mặc cảm tự ti đã vô tình tạo cho bản thân mỗi người hai khuôn mặt hoàn toàn khác nhau khi đối diện với tha nhân. Việc hình thành nên hai khuôn mặt trong cùng chính một cá nhân cho thấy con người ấy đang chịu rất nhiều áp lực từ mọi phía, có thể là từ chính bản thân mình và cũng có thể từ cuộc sống xung quanh, đã không ít người cố gắng che đậy đi những điều xấu, khiếm khuyết nơi bản thân, bởi việc làm này sẽ tạo nên một tấm khiên nhằm bảo vệ bản thân khỏi sự giòm ngó, khinh chê của người khác. Thái độ trên có thể giúp cho một số người tạm thời né tránh được những áp lực nơi đời sống cộng đoàn, giúp họ ở trong vùng an toàn, nhưng liệu đó có phải là một giải pháp hiệu quả, khi mà hành trình đời đan tu sẽ không chỉ ngày một ngày hai, nhưng là cả một đời người luôn phải gắn liền với đời sống chung.

 

Với những người sống ở đời, khi cuộc sống của họ gặp quá nhiều khó khăn, nhiều áp lực thì tâm lý của họ dễ rơi và tình trạng stress, còn với những người đan sĩ, những khó khăn gặp phải nơi đời sống đan tu không chỉ gây ra cho họ những căng thẳng về mặt tâm lý, nhưng còn dễ khiến cho tâm hồn họ trở nên khô cằn và trống rỗng. Thánh phụ Biển Đức đã mở ra cho các đan sĩ một con đường để thoát ra khỏi tình trạng trên, là bày tỏ tất cả mọi ý tưởng xấu xa của mình ra. Đây quả là một việc làm rất khó khăn, một nước cờ mà không mấy ai dám đi, bởi vấn đề này không chỉ liên quan đến đời sống riêng tư của từng người, mà còn cả đời sống nội tâm cá nhân (tòa trong), nên thật khó để bất cứ một ai sẵn sàng tỏ lộ ra tất cả. Thánh Biển Đức có thể gây ra một sự lúng túng cho các đan sinh của mình, tuy nhiên, nếu tìm hiểu rõ nguồn gốc lời nhắn nhủ của Cha Thánh, sẽ biết được ngài đã nhắc lại đề tài của linh phụ Cassiano, đó là khi bày tỏ những tư tưởng xấu của mình ra, mỗi người sẽ hết bị chúng giam hãm, đây như là cách để chữa trị căn bệnh tâm hồn mà nhiều người đã và đang gặp phải. Tuy nhiên, với một bài thuốc có thể chữa trị được bách bệnh nhưng người dùng không uống thì bài thuốc ấy chẳng mang lại tác dụng gì trên người bệnh cả. Việc tỏ bày những tư tưởng xấu nơi bản thân ra cho người khác không bao giờ là việc dễ dàng, may chăng việc chia sẻ ấy chỉ diễn ra đối với một số người bạn, anh em gần gũi, thân quen thôi, mặc dù rất hạn chế, nhưng đối với viện phụ, thì vấn đề này quả rất khó khăn.

 

Ở chương năm của Tu Luật, Cha Thánh đã trình bày «viện phụ là người đại diện Chúa», nên mỗi khi người đan sĩ vâng phục viện phụ thì cũng đang vâng phục chính Chúa Kitô. Mặc dù vậy, khi nhìn dưới phương diện con người, nhiều người vẫn cho rằng viện phụ cũng chỉ là con người thôi, nên chẳng mấy ai dám gửi gắm tất cả sự tin tưởng nơi người mà mình đã bầu lên làm bề trên. Ngày xưa, viện phụ được bầu lên và làm công việc ấy cho đến khi mãn đời, ngày hôm nay đã bỏ luật ấy, một nhiệm kỳ ngày nay chỉ có sáu năm, nên cũng khiến cho không ít các đan sĩ có thể chân thành chia sẻ hết những gì mà đời sống thiêng liêng mình đang phải đối diện. Vấn đề ở đây không chỉ nơi người đan sĩ mới gặp những khó khăn khi phải cố gắng tìm một người để chia sẻ đời sống nội tâm, nhưng ngay cả viện phụ cũng gặp không ít những khó khăn khi đối diện với đời sống thiêng liêng của con cái mình, vì rất dễ bị lẫn lộn giữa tòa trong và tòa ngoài khi ngài thi hành chức vụ của mình. Vì vậy, thánh Biển Đức đòi hỏi nơi viện phụ rất nhiều đức tính, viện phụ không chỉ là một con người nhân ái, tha thứ, mà còn là người khơi dậy nơi anh em niềm hy vọng chứ không phải là nỗi thất vọng.

 

Bậc khiêm nhường thứ năm dường như nhấn mạnh nhiều về viện phụ hơn là những đan sinh, tuy nhiên, có một sự liên hệ ở đây, mỗi một đan sinh cũng chính là viện phụ trên chính cuộc đời mình, một thái độ cởi mở và đón nhận người khác luôn là điều Cha Thánh muốn nhắn gửi tới các đan sinh. Qủa thật, nơi cuộc sống này, bất cứ ai cũng đều cần được chia sẻ, cảm thông, nhưng muốn làm được điều đó đòi hỏi phải có lòng khiêm tốn chân thành, tuy nhiên, nếu chính bản thân của mỗi người chưa thực sự khiêm tốn thì lấy gì để người khác có thể tin tưởng tìm đến và mở lòng. Thái độ đón nhận người khác nơi chính mỗi người sẽ không chỉ giúp mỗi người ngày càng trở nên giống hình ảnh của Đức Kitô, nhưng còn có thể giúp người anh em của mình lớn lên trong đức khiêm nhường, một hình ảnh rất dễ thấy nơi Đức Kitô khi Ngài đối thoại với những người tội lỗi là một thái độ cởi mở, đón nhận người khác, bất kể người ấy đang ở cương vị nào, hay tình trạng sống như thế nào, và đặc biệt, hầu như trong tất cả những cuộc đối thoại ấy, đều có sự biến đổi.

 

 

 

KHIÊM NHƯỜNG -

CỬA NGÕ CHO NGƯỜI ĐAN SĨ ĐẾN VỚI THIÊN CHÚA

 

 

 M. Henrico Nguyễn Văn Hoàng

 

Cổ nhân đã từng nói: “Kẻ nào giàu có nhân đức mà thiếu đức Khiêm nhường thì cũng giống như người cầm nắm cát đứng trước gió”. Khiêm nhường đích thực bao giờ cũng bao hàm sự cẩn trọng và khôn ngoan để hành xử công việc, và nhất là giúp chúng ta biết cách tránh khỏi những cạm bẫy của cuộc đời. Như vậy, theo truyền thống, khiêm nhường là đức tính đầu tiên trong các đức tính và là cửa ngõ dẫn vào đời sống tâm linh. Và giống như tất cả mọi điều khác, cách bắt đầu của sự khiêm nhường thì khó diễn tả hơn là khi đã đạt đến kết quả mong muốn. Vì thế mà thánh Biển Đức muốn nhắn gửi tới những người con của ngài qua bậc khiêm nhường thứ V là lấy lòng khiêm tốn mà thành thật tỏ bày cùng viện phụ mọi ý tưởng xấu xa đột nhập vào lòng và những lỗi thầm kín…” (Tl 7,44). Qua đây người viết xin được trình bày sự hiểu biết của mình về bậc khiêm nhường thứ V này.

 

Chúng ta đang sống giữa cảnh đời tranh đua xua nịnh, thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân và lấy những giá trị trần thế làm thước đo, thì đời sống đan tu là một “dấu chấm hỏi” cho con người thời nay. Hơn ai hết, các đan sĩ đang làm chứng một điều trái ngược với hiểu biết và sự kiếm tìm một đời sống khiêm nhường. Khi bước vào đời đan tu, người đan sĩ dám đánh đổi tất cả để bước theo Đức Kitô cách triệt để hơn; đồng thời kiến tạo một cuộc sống thanh thoát, tự do và hiệp nhất. Đàng khác, sự hiện diện của người đan sĩ đã toát lên lời chứng hùng hồn: thế gian này chưa phải là tất cả, nhưng còn đó hạnh phúc vĩnh cữu mà Thiên Chúa đang gọi mời. Vì thế, khi nói đến khiêm nhường đối với những người chập chững bước vào đời tu thật là cam go, có cảm tưởng như một nốt nhạc trái khuấy trong bản hòa âm. Óc cầu tiến, cầu toàn, khiến chúng ta muốn vươn vượt hơn người khác, khó mà chấp nhận vâng phục để người khác dẫn đi. Có khi chúng ta vì không hiểu được giá trị của khiêm nhường nên chúng ta cho vâng phục là hèn hạ, đáng khinh chê.

 

Như vậy, khiêm nhường là có một cái nhìn thật về mình, dù các khả năng, các ơn và các phẩm chất được Chúa ban và nỗ lực cá nhân để đạt được. Đó là nhận biết các ơn thể lý hay thiêng liêng là những ơn mà chúng ta chỉ là người được ký gởi, người quản lý hay người mắc nợ. Vì thế, chúng ta chỉ làm bổn phận của mình, chúng ta chỉ là “người tôi tớ” bình thường hay vô dụng (x. Lc 17,10). Vấn đề không phải xem đây là đánh giá thấp hay không thấp các giá trị của chúng ta, nhưng là học để đặt mình vào đúng chỗ của mình dưới cái nhìn của Đấng đã cứu và soi sáng chúng ta. Đó chỉ là phần chúng ta với tất cả giá trị và ơn đã được ban cho chúng ta. Ở trong sự thật khiêm nhường này sẽ dạy, để chúng ta không đi vào con đường phù phiếm, danh vọng hảo, nịnh hót, ảo tưởng, nghĩ mình ở trên cao hay dưới thấp. Người khiêm nhường biết mình có khả năng tốt cũng như xấu. Đó là lý do vì sao đức khiêm nhường giúp người đan sĩ nhận biết các giới hạn, các yếu kém, sự bất lực và thiếu hiểu biết của mình. Đây là một trong các định nghĩa cơ bản của các giáo phụ: “Một người biết được điểm yếu của mình là họ đã chạm đến sự toàn hảo của đức khiêm nhường.”

 

Bởi thế, khi người đan sĩ ý thức được mọi ân sủng đều bắt nguồn từ Chúa, nên người đan sĩ luôn một lòng khiêm nhường không trông vào sức mình, mà cậy vào sức Chúa và luôn sống trong tâm tình tạ ơn. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhận ra ơn huệ Chúa ban trong mọi hoàn cảnh. Nhất là khi những điều xảy đến, theo lẽ thường, là những điều chúng ta không mong đợi, thậm chí còn chán ghét khi phải như gặp bệnh tật, thất bại, bị hiểu lầm…Với tâm tình đó, người đan sĩ phải khiêm nhường chờ đợi và đón nhận tất cả từ nơi Thiên Chúa, đồng thời tìm cách thể hiện lòng tri ân cảm mến bằng việc dấn thân phục vụ anh em với lòng khiêm nhường.

 

Qua đây, thánh Biển Đức nhấn mạnh tới sự khiêm nhường, được xây dựng trên việc bắt chước Chúa Kitô, Ngài không đến để làm theo ý mình, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai mình. Tuy nhiên, để có thể khiêm nhường suốt cả cuộc đời thì người đan sĩ phải thấm nhuần bằng tình yêu. Như vậy, ta có thể kết luận rằng, đối với thánh Biển Đức, không thể có khiêm nhường đích thực nếu không có tình yêu. Vì thế, khiêm nhường cũng như vâng phục không hề là tự hạ giá mình, tự hủy diệt bản thân. Nhưng khiêm nhường là để Chúa lớn lên nơi mình, để Ngài dần dần hiện diện tràn đầy trong cuộc sống của mình.

 

Vì vậy, đối với thánh Biển Đức, khiêm nhường không đè bẹp chúng ta, nhưng làm cho chúng ta lớn lên. Tuy chẳng theo cách của con người. Vì điều làm cho chúng ta ta lớn lên, điều giúp chúng ta tiến tới mức sung mãn của nhân tính, đó là sự kiện Thiên Chúa đến cư ngụ nơi chúng ta. Có thể nói đây là sứ điệp quan trọng nhất thánh Biển Đức muốn gửi đến cho người đan sĩ trong bậc khiêm nhường thứ năm này: tùy theo thái độ đón nhận của mình mà chúng ta có thể giúp người anh em lớn lên trong đức khiêm nhường.

 

 

 

 06.06.2022