Linh đạo

ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG THEO THÁNH PHỤ BIỂN ĐỨC (4)

Qua bậc khiêm nhường thứ IV, Cha thánh dạy bảo cho các môn sinh của ngài phải biết vươn lên mỗi ngày để đạt tới đỉnh cao của sự khiêm nhường, đỉnh cao đó là sống trước sự hiện diện của Chúa. Chính giữa những khó khăn, thất bại, hiểu lầm, dường như Chúa đẩy chúng ta vào, nhờ thế mà chúng ta có được kinh nghiệm về sự hiện diện của Ngài. Nhờ sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng giải thoát được cái tôi của mình, dễ dẹp bỏ ý riêng để tìm ý Chúa qua các vị hữu trách.

 

 

 

ĐAN SĨ THỰC THI ĐỨC VÂNG LỜI

 

 

M. Henrico Nguyễn Văn Hoàng

 

Được sinh ra trong dòng đời, hiện hữu trong cuộc sống, ai cũng có lối đi riêng, suy nghĩ mỗi người lại khác biệt. Sở hữu được niềm vui đôi khi cũng phải vượt qua những niềm đau, đạt được thành công nhiều khi cũng phải đứng lên từ gian khó. Vượt qua những ngày giông tố chúng ta sẽ cảm nhận được giá trị của cuộc đời, đi qua chặng đường gian nan chúng ta mới thấu hiểu ý nghĩa của kiếp nhân sinh. Quả thật, thánh Biển Đức đã cảm nhận được điều ấy qua Bậc khiêm nhường thứ tư là:“Trong khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước. Thánh Kinh dạy rằng: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu sống” (TL7,35-36). Nói khác hơn, thánh nhân muốn nhắn nhủ người đan sĩ hãy kiên cường và cậy trông vào Chúa thì sẽ vượt qua những gian nan thử thách trong bậc sống của mình. Đứng trước thử thách đó, người đan sĩ phải thực thi đức vâng phục như thế nào? Vậy người viết xin được trình bày dưới cái nhìn của bản thân về bậc khiêm nhường thứ IV này.

 

Chúng ta đang sống giữa cảnh đời tranh đua xua nịnh, thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân và lấy những giá trị trần thế làm thước đo, đời sống đan tu trở thành một “dấu chấm hỏi” cho con người thời nay. Hơn ai hết, các đan sĩ đang làm chứng một điều trái ngược với hiểu biết và sự kiếm tìm theo lẽ thường. Khi bước vào đời sống đan tu, người đan sĩ dám đánh đổi tất cả để bước theo Đức Kitô cách triệt để hơn; đồng thời kiến tạo một cuộc sống thanh thoát, tự do và hiệp nhất. Thế nhưng, khi đánh giá người khác, chúng ta lại dựa trên bằng cấp. Ngày nay trong các cộng đoàn đan tu cũng không ít những người có học vị rất cao, có khả năng hay tài giỏi hơn người khác về nhiều mặt. Chuyện đáng nói là: đã có những người sống rất khiêm tốn, hòa đồng, cởi mở… tuy nhiên, cũng có những người lại rất tự mãn về những thành công của mình đã làm được điều này điều kia, họ tỏ ra kiêu ngạo, vênh vang và muốn thể hiện chính mình qua những thành công đó, họ làm cốt chỉ để khoe khoang và mưu tìm danh vọng cho bản thân, muốn được người khác tôn trọng, công nhận những thành công đó, nhưng khi bị chê bai, chỉ trích, hay gặp thất bại, họ dễ thất vọng và như muốn buông bỏ tất cả.

 

Chính vì vậy mà tự kiêu là một cản trở lớn làm cho người đan sĩ khó thực thi đức vâng lời một cách tốt nhất. Để phá vỡ những rào cản ngăn cách người đan sĩ sống đức vâng phục cách trọn hảo, thiết nghĩ trước hết phải tìm lại động cơ siêu nhiên của đời sống thánh hiến trong tương quan với Thiên Chúa cùng với những khao khát ước muốn thuở ban đầu; sau nữa, chính bản thân người đan sĩ cần phải phát huy những phẩm tính nơi mình để sống vâng phục cách triệt để nhất. Bởi lẽ, vâng phục sẽ giúp người đan sĩ trưởng thành hơn. Vâng phục giúp chúng ta biết rằng không phải lúc nào mình cũng đúng và cũng nắm rõ mọi sự. Vâng phục dạy bảo chúng ta không quá tin vào kiến thức và phán đoán của mình. Từ đó, chúng ta nhận ra mình không hề hoàn hảo và thông thạo mọi thứ. Điều chúng ta cần là được người khác dạy bảo và chỉ cho biết phải làm gì để mưu cầu lợi ích tốt nhất. Vâng phục đòi hỏi người đan sĩ phải biết hạ mình, cúi đầu. Đây không phải là một kiểu sỉ nhục, nhưng là một thái độ của những người luôn mở ra với những khả thể mới, đón nhận những điều nằm ngoài khả năng dự đoán và những kế hoạch của mình. Đó cũng chính là cầu nối để người đan sĩ tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô nơi trần gian hầu trở nên dấu chỉ cho nước Chúa hiện diện. Chính vì thế, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã quả quyết: “Mọi công việc của đan sĩ luôn có giá trị cứu rỗi khi được làm trong đức vâng phục” (Tông huấn Hồng ân cứu chuộc, số 13).

 

Vì thế, vâng phục giúp người đan sĩ thoát khỏi chủ nghĩa cái tôi, óc vị kỷ, những yếu đuối và ảo tưởng, thói ham hố quyền lực và các đam mê. Vì là con người ai cũng thích ra lệnh hơn là phục quyền, thích chỉ đạo hơn là nghe theo sự sắp xếp của người ta, thích làm theo ý riêng hơn là làm điều gì chống lại và làm những gì mình thích chứ ít khi thích những gì mình phải làm. Chúng ta luôn cho rằng những phán đoán của mình là đúng và cứ khăng khăng nhất quyết ở lại trong đó, bắt người khác phải đồng thuận với mình chứ ít khi làm điều ngược lại. Chính những ảo tưởng đó làm cho cái tôi trở nên lớn hơn, dần dần nó làm cho người ta trở nên ngạo mạn, tự hào về bản thân, tự phong cho mình một vị trí quan trọng. Cứ mỗi lần thực thi vâng phục là chúng ta được tháo cởi khỏi những điều này. Trái với suy nghĩ cho rằng vâng phục giết chết tự do, thực chất nó giúp cho người đan sĩ biết cách sử dụng tự do của mình hiệu quả hơn và đúng cách hơn. Chúng ta vẫn hay sai lầm khi cho rằng tự do là muốn làm gì thì làm. Đây là môt kiểu tự do phá hoại, chứ tự nó chẳng đắp xây hay giúp ích điều gì. Vâng phục là đặt mình trong tâm thế sẵn sàng trước một sứ mạng. Người tu sĩ được trao trọn tự do để thực thi mọi điều mình cho là đúng đắn trong phạm vi của người đan sĩ. Sự tự do lúc này đã được công nhận và đảm bảo. Nó sẽ sinh nhiều hoa trái. Ngoài ra, nhờ vâng phục, “người đan sĩ lấy chính mình làm của lễ, giết chết ý riêng mình, tự ái của mình làm của lễ toàn thiêu[1].

 

Qua bậc khiêm nhường thứ IV, Cha thánh dạy bảo cho các môn sinh của ngài phải biết vươn lên mỗi ngày để đạt tới đỉnh cao của sự khiêm nhường, đỉnh cao đó là sống trước sự hiện diện của Chúa. Chính giữa những khó khăn, thất bại, hiểu lầm, dường như Chúa đẩy chúng ta vào, nhờ thế mà chúng ta có được kinh nghiệm về sự hiện diện của Ngài. Nhờ sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng giải thoát được cái tôi của mình, dễ dẹp bỏ ý riêng để tìm ý Chúa qua các vị hữu trách để như lời thánh Phaolô nói: “Nay con sống là sống cho Thiên Chúa” (Rm 6, 10). Như vậy, bậc khiêm nhường này giúp người đan sĩ sống đức vâng phục như là của lễ toàn thiêu nhờ thực thi tình yêu liên lỉ. Đó là một hành vi thờ phượng, nên cần được thực hiện với một sự phục tùng khiêm nhường và ngoan thảo, tôn kính và mến yêu, đón nhận những gì được giao phó, như một biểu hiện của tình yêu.

 

 

 

THƯỚC ĐO CỦA SỰ THÁNH THIỆN

LÀ ĐAN SĨ BIẾT VÂNG PHỤC VÀ CHẤP NHẬN TẤT CẢ

 

 

M. Pascal Trần Trì

 

Khi đối diện với những nguy khó của cuộc sống, mỗi người trong chúng ta thường có khuynh hướng buông xuôi và dễ thất vọng. Như hiểu được nỗi lòng của các môn sinh, thánh Biển Đức đã truyền cảm hứng nâng đỡ họ bằng bậc khiêm nhường thứ tư, đó là khi vâng phục dù có gặp những điều cam go trái ý và bất kỳ sỉ nhục nào vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng, không nản lòng và vững dạ an tâm. Ngài như chiếu vào đời họ một ánh sáng hy vọng, và giúp môn đệ mình hiểu rằng, những thử thách đó chưa phải là dấu chấm hết nhưng qua đó hiểu được rằng đó chính là phương thế từng bước giúp họ tiến lên con đường trọn lành.

 

Thật vậy, khi sống đời thánh hiến, mỗi đan sĩ không lạ gì khi nói về sự vâng phục và tầm quan trọng của nó. Nhưng đức vâng phục, nghe có vẻ không khó khăn gì lắm, nhưng khi thực hiện quả là một điều không dễ dàng. Vâng phục gặp điều mình thích thì xem ra giản đơn, nhưng gặp phải điều trái ý nghịch lòng nếu không có một đức tin mạnh mẽ, một lòng mến sắt son thiết nghĩ khó vượt qua. Ở bậc khiêm nhường này, Cha thánh không nhằm cổ xúy các đan sĩ đi tìm kiếm sự đau khổ như chương 58 ngài đề cập, nhưng ngài ước mong khi gặp điều không vừa ý, điều quan trọng là biết đón nhận như thánh ý Thiên Chúa vậy. Trong đời sống cộng đoàn đan tu, thường có những “xì xầm” khi được phát bài sai mỗi năm của Bề Trên. Vậy tại sao có những hiện tượng này xảy ra? Nhìn chung đời tu thời nào cũng gặp phải những trường hợp này, vì là đang còn đó trọn vẹn một con người. Nhưng hơi khác hơn là con người thời nay, quá đề cao giá trị của bằng cấp, của chuyên môn, của khả năng... đan sĩ cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng, nên khó chấp nhận một sứ vụ nhiều lúc được xem là không xứng tầm với bản thân. Điều này thật sự rất nguy hiểm nếu không biết phòng tránh những lèo lái, thâu tóm của sự dữ, dễ dẫn đến chia phe kết cánh làm xáo trộn cộng đoàn. Thánh phụ như thấy trước và đã vạch ra những hướng đi, con đường đó không khác gì ngoài con đường của tình yêu, con đường của Tin Mừng.

 

Thật vậy, hành trình theo bước Đức Kitô không làm cho người môn đệ hết khổ đau, trái lại những khổ đau đó có nên hoa trái thánh thiêng hay không còn tùy thuộc vào mỗi cá nhân biết phó thác, chấp nhận hay không. Vì chưng con đường đan sĩ đang đi là con đường của Thập giá. Một con đường “chịu đánh mất chính mình” (Đức Benedicto XVI, Đức Giêsu thành Nazareth, 2007, tr. 333) để tìm được lại chính ta. Quả thật, nếu chỉ nhìn khía cạnh tiêu cực, mọi thử thách khi vâng phục thì khó vượt qua, vì “thi hành chỉ thị mà vùng vẫy là kiêu ngạo, không phải vâng phục” (ĐHV 403) nhưng khi nhìn xa trông rộng thì nó không phải là một sự mất mát, nhưng còn mở ra cho chúng ta một chân trời của ân phúc. Cũng như cuộc sống bình thường toàn gặp điều thuận lợi thì dễ làm cho chúng ta sống phóng túng, nhưng khi được thử thách thanh luyện chúng ta khép mình được vào trong trật tự hay chương trình của Thiên Thúa. Nói như thế cũng dễ dẫn đến hiểu lầm, vì cho rằng đi theo Chúa quả là khó khăn đau khổ vậy chẳng hơn gì. Nhưng chính Chúa Giêsu đã minh định rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Điều đó không có nghĩa là chúng ta tự đi tìm kiếm sự đau khổ trong vô minh, nhưng là sẵn sàng đón nhận mọi biến cố trái với ý muốn của ta trong một tâm tình vui vẻ. Vậy hãy bình an, hãy kiên vững và cầu nguyện giữa lúc gặp gian truân thử thách trăm chiều, vì điều ấy hằng có lợi cho tất cả những ai yêu mến Người (x. Gc 1,2).

 

Kinh nghiệm sống của mỗi người được dệt bằng hy vọng, hy vọng trong khổ đau, hy vọng trong thử thách, hy vọng trong tất cả. Biết chấp nhận thực tại đau khổ cũng là một loại hạnh phúc. Trong lúc khó khăn biết biến đau khổ thành hạnh phúc đó chính là đáp án hoàn mĩ nhất mà ai trong cuộc đời này đều muốn đạt được. Trong cuộc sống, chúng ta không thể mong muốn tất cả mọi người đều thuận ý với mình, không nản lòng, không lùi bước. Trong Tu luật chương 7, câu 36, Cha thánh dùng Thánh Kinh dạy rằng: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu độ”. Chỉ có sống với hiện tại, chỉ có nỗ lực với hiện tại mới là sống cho ngày mai tươi sáng. Kỳ thực, mỗi một lần đau khổ chính là một lần trưởng thành.

 

Để vượt qua những thách đố đó, điều quan trọng nhất là phải biết thinh lặng, thinh lặng không phải chỉ để thinh lặng, nhưng để suy gẫm, để nhận ra thánh ý Thiên Chúa, để chấp nhận trong mọi sự. Biết tìm bình an giữa lúc khốn khó. Biết sống chiều kích phó thác “mọi âu lo hãy trút cho Người, vì Người chăm sóc anh em” (1Pr 5,7). Có thể nói, ý nghĩa của đời sống đan tu không hệ tại chúng ta làm được gì, nhưng hệ tại đến sự vâng phục của chúng ta như thế nào. Vì nếu chúng ta làm mọi sự nhằm quy hướng về mình xem ra nó chỉ là nhưng lâu đài của sự ích kỷ cố thủ. Nhưng việc làm đó không dễ gì tạo ra được sự bình an và hạnh phúc. Trong Tông Huấn Evangelii Gaudium, Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: Mọi người đều phải đến với sự an ủi và khích lệ của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, là điều hoạt động cách mầu nhiệm trong bất cứ ai, vượt trên và vượt ra ngoài những lầm lỗi và sa ngã”. Sự vâng phục chấp nhận thử thách của đan sĩ không chỉ diễn ra một lần là xong, cho nên cần phải tái khám phá mỗi biến cố để đọc ra thánh ý Chúa. Để phá vỡ những rào cản tại sao khó chấp nhận thử thách khi vâng phục, chúng ta cũng cần tìm đến động cơ siêu nhiên, nghĩ lại những mong ước tinh ròng ban đầu của đời thánh hiến để cố gắng vượt qua mọi thử thách cam go.

 

 

 

SUY GẪM VỀ SỰ KIÊN TÂM CHỊU ĐỰNG TRONG VÂNG PHỤC

 

 

M. Jose Rubio Nguyễn Văn Thắng

 

Mỗi người là mỗi cá vị riêng biệt. Mỗi người đều mang trong mình một suy nghĩ riêng, một cái nhìn riêng, một lập trường riêng... Điều đó đã nói lên sự khác biệt giữa người với người. Sự khác biệt ấy gây nhiều tai hại nhưng cũng không thiếu ích lợi trong đời sống cộng đoàn nói riêng và xã hội nói chung. Tuy vậy, dù là ích lợi hay thiệt hại, sự khác biệt luôn khiến con người phải chịu đựng lẫn nhau. Bởi vậy, thánh phụ Biển Đức đã thẳng thắn nói các đan sĩ rằng: “Bậc khiêm nhường thứ tư là trong khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước (TLBĐ 7,35-36).

 

Cái lợi của sự khác biệt là làm cho con người sống cần nhau. Không một ai trong những người “mang thân phận con người” lại có thể sống mà không cần người khác.


Thân phận con người, ấy là thân phận chịu đựng sự thiếu thốn. Sự thiếu thốn đã bám lấy con người ngay từ khi vừa chào đời, và cứ tiếp diễn cho đến khi chết. Sau khi chết, con người có còn phải chịu đựng sự thiếu thốn ấy nữa không? Không ai nắm chắc câu trả lời, và nhiều người không thèm nghĩ đến. Nhưng hết thảy mọi người đã cần nhau, đã giúp nhau có được nhiều điều muốn có; thậm chí còn đáp ứng rất nhiều nhu cầu “họ sẽ muốn có”. Ấy là sự sáng tạo không ngừng, đáp ứng từ những nhu cầu cơ bản như ăn uống đến những nhu cầu tinh thần đủ loại; là khởi đầu của sự tuyên dương con người với con người. Bấy giờ, nhiều người dường như đã quên rằng sự thiếu thốn nơi con người là một vấn đề thuộc bản chất; có nguyên cớ “tự nhiên” (x. St 16-19). Họ nói “con người tự đủ cho chính mình”; không cần Thiên Chúa hay bất cứ một thế lực thần thánh nào khác. Họ là những kẻ lừa dối chính mình, điều tai hại nhất trong xã hội là những kẻ này khá đông.

 

Còn chúng ta, những người đan sĩ hiểu rằng, sự thiếu thốn thuộc về bản chất nơi chúng ta là nền tảng căn bản và phổ biến, giải thích một cách thiết thực, vì sao phải có vâng phục, vì sao có chịu đựng? Vâng phục quy luật tự nhiên hay giới luật của Chúa đều là vâng phục Thánh ý Chúa. Ấy vậy, thánh Biển Đức khẳng định không một chút mơ hồ: “Khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước”. Chúng ta chịu đựng, không vì để chịu đựng, chúng ta không lừa dối mình, không phản nghịch chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Chúng ta có một mục đích rõ ràng là hạnh phúc của cuộc sống đời đời trong sự kết hiệp với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa là sản nghiệp con được hưởng; là chén phúc lộc dành cho con. Số mạng con chính Ngài nắm giữ” (Tv 15,5). Một cuộc sống càng có mục tiêu càng phải có sự kiên tâm chịu đựng: “Lòng con hãy kiên cường và trông cậy vào Chúa” (TLBĐ 7,35). Thiên Chúa luôn hiện diện trong sự kiên tâm chịu đựng của mỗi người đan sĩ. Đan sĩ muốn phó thác toàn thể con người và mọi chi tiết của cuộc sống của mình cho Thiên Chúa. Bởi lẽ, chúng ta đã có Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống (Ga 14,1-12); Ngài là sự đảm bảo, hướng dẫn, nâng đỡ cho ta, để chúng ta có thể kiên tâm chịu đựng trong suốt cuộc đời.

 

Kiên tâm, chịu đựng là những yếu tố hiện sinh dễ hiểu, không cần đi sâu vào những chi tiết cụ thể. Thế nhưng có hơi khác, “âm thầm” có ý nghĩa gì đối với “kiên tâm chịu đựng”? 


Thật ra, ý nghĩa của “âm thầm” chỉ được làm rõ khi ta đã xác định rõ mục đích của “kiên tâm chịu đựng”, mà mục đích ấy đã được xác định nơi Chúa Kitô: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng (Is 53,7). Những mô tả trong đoạn Isaia này nói về Chúa Giêsu Kitô. Ý nghĩa của sự “âm thầm”, cũng có thể được cắt nghĩa trong đoạn này. Thật vậy, sự “âm thầm” đối với kiên tâm chịu đựng là để vâng phục tuyệt đối thánh ý Thiên Chúa, và đồng thời minh chứng tình yêu đối với Chúa Cha và chúng ta là thụ tạo của Ngài: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, […], bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu Người, tội lỗi của tất cả chúng ta” (Is 53,4-6). Có bao giờ khi “chịu sỉ nhục”, người ta la lối om sòm mà lại có thể gọi là kiên tâm chịu đựng không? Không, đó là sự phản kháng, không phải là vâng phục, không vì tình yêu đối với điều gì ngoài bản thân khốn khổ ấy. Chúng ta muốn kết hợp với Thiên Chúa, muốn được hưởng kiến Thiên Chúa thì “âm thầm” chính là điều mà chúng ta cần họa lại nơi bản thân mình. Họa lại hình ảnh Chúa Kitô, người tôi trung đau khổ, và đồng thời minh chứng tình yêu của chúng ta với mục đích của cuộc sống “âm thầm kiên tâm chịu đựng” là Thiên Chúa và công trình sáng tạo của Ngài.

 

Mang thân phận con người, chúng ta cần nhau, nhưng không phải để lừa dối nhau rằng, con người là cứu cánh của con người. Không thể lấy sự thiếu thốn để làm đầy đủ sự thiếu thốn, con người cần nhau nhưng không phải là sự đầy đủ của nhau. Chúng ta cần Thiên Chúa vì Người tự đầy đủ và làm cho chúng ta đầy đủ. Bởi vậy, nghe lời thánh phụ Biển Đức truyền dạy về đức vâng phục của chúng ta đối với thánh ý Thiên Chúa thật chính đáng: “Gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước”, để một ngày nào đó, như Chúa Giêsu đã hứa trong Kinh Thánh, chúng ta được nghỉ ngơi đời đời trong nhà của “Cha Ta” trên nước Thiên Đàng.

 

 

 

______________________________

 

[1] Vâng PhụcNói vâng cách vui vẻ là dấu chỉ một tâm hồn thánh thiện” số 406.