Linh đạo

ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG THEO THÁNH PHỤ BIỂN ĐỨC (4)

Qua bậc khiêm nhường thứ IV, Cha thánh dạy bảo cho các môn sinh của ngài phải biết vươn lên mỗi ngày để đạt tới đỉnh cao của sự khiêm nhường, đỉnh cao đó là sống trước sự hiện diện của Chúa. Chính giữa những khó khăn, thất bại, hiểu lầm, dường như Chúa đẩy chúng ta vào, nhờ thế mà chúng ta có được kinh nghiệm về sự hiện diện của Ngài. Nhờ sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng giải thoát được cái tôi của mình, dễ dẹp bỏ ý riêng để tìm ý Chúa qua các vị hữu trách.

 

 

 

ĐAN SĨ THỰC THI ĐỨC VÂNG LỜI

 

 

M. Henrico Nguyễn Văn Hoàng

 

Được sinh ra trong dòng đời, hiện hữu trong cuộc sống, ai cũng có lối đi riêng, suy nghĩ mỗi người lại khác biệt. Sở hữu được niềm vui đôi khi cũng phải vượt qua những niềm đau, đạt được thành công nhiều khi cũng phải đứng lên từ gian khó. Vượt qua những ngày giông tố chúng ta sẽ cảm nhận được giá trị của cuộc đời, đi qua chặng đường gian nan chúng ta mới thấu hiểu ý nghĩa của kiếp nhân sinh. Quả thật, thánh Biển Đức đã cảm nhận được điều ấy qua Bậc khiêm nhường thứ tư là:“Trong khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước. Thánh Kinh dạy rằng: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu sống” (TL7,35-36). Nói khác hơn, thánh nhân muốn nhắn nhủ người đan sĩ hãy kiên cường và cậy trông vào Chúa thì sẽ vượt qua những gian nan thử thách trong bậc sống của mình. Đứng trước thử thách đó, người đan sĩ phải thực thi đức vâng phục như thế nào? Vậy người viết xin được trình bày dưới cái nhìn của bản thân về bậc khiêm nhường thứ IV này.

 

Chúng ta đang sống giữa cảnh đời tranh đua xua nịnh, thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân và lấy những giá trị trần thế làm thước đo, đời sống đan tu trở thành một “dấu chấm hỏi” cho con người thời nay. Hơn ai hết, các đan sĩ đang làm chứng một điều trái ngược với hiểu biết và sự kiếm tìm theo lẽ thường. Khi bước vào đời sống đan tu, người đan sĩ dám đánh đổi tất cả để bước theo Đức Kitô cách triệt để hơn; đồng thời kiến tạo một cuộc sống thanh thoát, tự do và hiệp nhất. Thế nhưng, khi đánh giá người khác, chúng ta lại dựa trên bằng cấp. Ngày nay trong các cộng đoàn đan tu cũng không ít những người có học vị rất cao, có khả năng hay tài giỏi hơn người khác về nhiều mặt. Chuyện đáng nói là: đã có những người sống rất khiêm tốn, hòa đồng, cởi mở… tuy nhiên, cũng có những người lại rất tự mãn về những thành công của mình đã làm được điều này điều kia, họ tỏ ra kiêu ngạo, vênh vang và muốn thể hiện chính mình qua những thành công đó, họ làm cốt chỉ để khoe khoang và mưu tìm danh vọng cho bản thân, muốn được người khác tôn trọng, công nhận những thành công đó, nhưng khi bị chê bai, chỉ trích, hay gặp thất bại, họ dễ thất vọng và như muốn buông bỏ tất cả.

 

Chính vì vậy mà tự kiêu là một cản trở lớn làm cho người đan sĩ khó thực thi đức vâng lời một cách tốt nhất. Để phá vỡ những rào cản ngăn cách người đan sĩ sống đức vâng phục cách trọn hảo, thiết nghĩ trước hết phải tìm lại động cơ siêu nhiên của đời sống thánh hiến trong tương quan với Thiên Chúa cùng với những khao khát ước muốn thuở ban đầu; sau nữa, chính bản thân người đan sĩ cần phải phát huy những phẩm tính nơi mình để sống vâng phục cách triệt để nhất. Bởi lẽ, vâng phục sẽ giúp người đan sĩ trưởng thành hơn. Vâng phục giúp chúng ta biết rằng không phải lúc nào mình cũng đúng và cũng nắm rõ mọi sự. Vâng phục dạy bảo chúng ta không quá tin vào kiến thức và phán đoán của mình. Từ đó, chúng ta nhận ra mình không hề hoàn hảo và thông thạo mọi thứ. Điều chúng ta cần là được người khác dạy bảo và chỉ cho biết phải làm gì để mưu cầu lợi ích tốt nhất. Vâng phục đòi hỏi người đan sĩ phải biết hạ mình, cúi đầu. Đây không phải là một kiểu sỉ nhục, nhưng là một thái độ của những người luôn mở ra với những khả thể mới, đón nhận những điều nằm ngoài khả năng dự đoán và những kế hoạch của mình. Đó cũng chính là cầu nối để người đan sĩ tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô nơi trần gian hầu trở nên dấu chỉ cho nước Chúa hiện diện. Chính vì thế, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã quả quyết: “Mọi công việc của đan sĩ luôn có giá trị cứu rỗi khi được làm trong đức vâng phục” (Tông huấn Hồng ân cứu chuộc, số 13).

 

Vì thế, vâng phục giúp người đan sĩ thoát khỏi chủ nghĩa cái tôi, óc vị kỷ, những yếu đuối và ảo tưởng, thói ham hố quyền lực và các đam mê. Vì là con người ai cũng thích ra lệnh hơn là phục quyền, thích chỉ đạo hơn là nghe theo sự sắp xếp của người ta, thích làm theo ý riêng hơn là làm điều gì chống lại và làm những gì mình thích chứ ít khi thích những gì mình phải làm. Chúng ta luôn cho rằng những phán đoán của mình là đúng và cứ khăng khăng nhất quyết ở lại trong đó, bắt người khác phải đồng thuận với mình chứ ít khi làm điều ngược lại. Chính những ảo tưởng đó làm cho cái tôi trở nên lớn hơn, dần dần nó làm cho người ta trở nên ngạo mạn, tự hào về bản thân, tự phong cho mình một vị trí quan trọng. Cứ mỗi lần thực thi vâng phục là chúng ta được tháo cởi khỏi những điều này. Trái với suy nghĩ cho rằng vâng phục giết chết tự do, thực chất nó giúp cho người đan sĩ biết cách sử dụng tự do của mình hiệu quả hơn và đúng cách hơn. Chúng ta vẫn hay sai lầm khi cho rằng tự do là muốn làm gì thì làm. Đây là môt kiểu tự do phá hoại, chứ tự nó chẳng đắp xây hay giúp ích điều gì. Vâng phục là đặt mình trong tâm thế sẵn sàng trước một sứ mạng. Người tu sĩ được trao trọn tự do để thực thi mọi điều mình cho là đúng đắn trong phạm vi của người đan sĩ. Sự tự do lúc này đã được công nhận và đảm bảo. Nó sẽ sinh nhiều hoa trái. Ngoài ra, nhờ vâng phục, “người đan sĩ lấy chính mình làm của lễ, giết chết ý riêng mình, tự ái của mình làm của lễ toàn thiêu[1].

 

Qua bậc khiêm nhường thứ IV, Cha thánh dạy bảo cho các môn sinh của ngài phải biết vươn lên mỗi ngày để đạt tới đỉnh cao của sự khiêm nhường, đỉnh cao đó là sống trước sự hiện diện của Chúa. Chính giữa những khó khăn, thất bại, hiểu lầm, dường như Chúa đẩy chúng ta vào, nhờ thế mà chúng ta có được kinh nghiệm về sự hiện diện của Ngài. Nhờ sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng giải thoát được cái tôi của mình, dễ dẹp bỏ ý riêng để tìm ý Chúa qua các vị hữu trách để như lời thánh Phaolô nói: “Nay con sống là sống cho Thiên Chúa” (Rm 6, 10). Như vậy, bậc khiêm nhường này giúp người đan sĩ sống đức vâng phục như là của lễ toàn thiêu nhờ thực thi tình yêu liên lỉ. Đó là một hành vi thờ phượng, nên cần được thực hiện với một sự phục tùng khiêm nhường và ngoan thảo, tôn kính và mến yêu, đón nhận những gì được giao phó, như một biểu hiện của tình yêu.

 

 

 

THƯỚC ĐO CỦA SỰ THÁNH THIỆN

LÀ ĐAN SĨ BIẾT VÂNG PHỤC VÀ CHẤP NHẬN TẤT CẢ

 

 

M. Pascal Trần Trì

 

Khi đối diện với những nguy khó của cuộc sống, mỗi người trong chúng ta thường có khuynh hướng buông xuôi và dễ thất vọng. Như hiểu được nỗi lòng của các môn sinh, thánh Biển Đức đã truyền cảm hứng nâng đỡ họ bằng bậc khiêm nhường thứ tư, đó là khi vâng phục dù có gặp những điều cam go trái ý và bất kỳ sỉ nhục nào vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng, không nản lòng và vững dạ an tâm. Ngài như chiếu vào đời họ một ánh sáng hy vọng, và giúp môn đệ mình hiểu rằng, những thử thách đó chưa phải là dấu chấm hết nhưng qua đó hiểu được rằng đó chính là phương thế từng bước giúp họ tiến lên con đường trọn lành.

 

Thật vậy, khi sống đời thánh hiến, mỗi đan sĩ không lạ gì khi nói về sự vâng phục và tầm quan trọng của nó. Nhưng đức vâng phục, nghe có vẻ không khó khăn gì lắm, nhưng khi thực hiện quả là một điều không dễ dàng. Vâng phục gặp điều mình thích thì xem ra giản đơn, nhưng gặp phải điều trái ý nghịch lòng nếu không có một đức tin mạnh mẽ, một lòng mến sắt son thiết nghĩ khó vượt qua. Ở bậc khiêm nhường này, Cha thánh không nhằm cổ xúy các đan sĩ đi tìm kiếm sự đau khổ như chương 58 ngài đề cập, nhưng ngài ước mong khi gặp điều không vừa ý, điều quan trọng là biết đón nhận như thánh ý Thiên Chúa vậy. Trong đời sống cộng đoàn đan tu, thường có những “xì xầm” khi được phát bài sai mỗi năm của Bề Trên. Vậy tại sao có những hiện tượng này xảy ra? Nhìn chung đời tu thời nào cũng gặp phải những trường hợp này, vì là đang còn đó trọn vẹn một con người. Nhưng hơi khác hơn là con người thời nay, quá đề cao giá trị của bằng cấp, của chuyên môn, của khả năng... đan sĩ cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng, nên khó chấp nhận một sứ vụ nhiều lúc được xem là không xứng tầm với bản thân. Điều này thật sự rất nguy hiểm nếu không biết phòng tránh những lèo lái, thâu tóm của sự dữ, dễ dẫn đến chia phe kết cánh làm xáo trộn cộng đoàn. Thánh phụ như thấy trước và đã vạch ra những hướng đi, con đường đó không khác gì ngoài con đường của tình yêu, con đường của Tin Mừng.

 

Thật vậy, hành trình theo bước Đức Kitô không làm cho người môn đệ hết khổ đau, trái lại những khổ đau đó có nên hoa trái thánh thiêng hay không còn tùy thuộc vào mỗi cá nhân biết phó thác, chấp nhận hay không. Vì chưng con đường đan sĩ đang đi là con đường của Thập giá. Một con đường “chịu đánh mất chính mình” (Đức Benedicto XVI, Đức Giêsu thành Nazareth, 2007, tr. 333) để tìm được lại chính ta. Quả thật, nếu chỉ nhìn khía cạnh tiêu cực, mọi thử thách khi vâng phục thì khó vượt qua, vì “thi hành chỉ thị mà vùng vẫy là kiêu ngạo, không phải vâng phục” (ĐHV 403) nhưng khi nhìn xa trông rộng thì nó không phải là một sự mất mát, nhưng còn mở ra cho chúng ta một chân trời của ân phúc. Cũng như cuộc sống bình thường toàn gặp điều thuận lợi thì dễ làm cho chúng ta sống phóng túng, nhưng khi được thử thách thanh luyện chúng ta khép mình được vào trong trật tự hay chương trình của Thiên Thúa. Nói như thế cũng dễ dẫn đến hiểu lầm, vì cho rằng đi theo Chúa quả là khó khăn đau khổ vậy chẳng hơn gì. Nhưng chính Chúa Giêsu đã minh định rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Điều đó không có nghĩa là chúng ta tự đi tìm kiếm sự đau khổ trong vô minh, nhưng là sẵn sàng đón nhận mọi biến cố trái với ý muốn của ta trong một tâm tình vui vẻ. Vậy hãy bình an, hãy kiên vững và cầu nguyện giữa lúc gặp gian truân thử thách trăm chiều, vì điều ấy hằng có lợi cho tất cả những ai yêu mến Người (x. Gc 1,2).

 

Kinh nghiệm sống của mỗi người được dệt bằng hy vọng, hy vọng trong khổ đau, hy vọng trong thử thách, hy vọng trong tất cả. Biết chấp nhận thực tại đau khổ cũng là một loại hạnh phúc. Trong lúc khó khăn biết biến đau khổ thành hạnh phúc đó chính là đáp án hoàn mĩ nhất mà ai trong cuộc đời này đều muốn đạt được. Trong cuộc sống, chúng ta không thể mong muốn tất cả mọi người đều thuận ý với mình, không nản lòng, không lùi bước. Trong Tu luật chương 7, câu 36, Cha thánh dùng Thánh Kinh dạy rằng: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu độ”. Chỉ có sống với hiện tại, chỉ có nỗ lực với hiện tại mới là sống cho ngày mai tươi sáng. Kỳ thực, mỗi một lần đau khổ chính là một lần trưởng thành.

 

Để vượt qua những thách đố đó, điều quan trọng nhất là phải biết thinh lặng, thinh lặng không phải chỉ để thinh lặng, nhưng để suy gẫm, để nhận ra thánh ý Thiên Chúa, để chấp nhận trong mọi sự. Biết tìm bình an giữa lúc khốn khó. Biết sống chiều kích phó thác “mọi âu lo hãy trút cho Người, vì Người chăm sóc anh em” (1Pr 5,7). Có thể nói, ý nghĩa của đời sống đan tu không hệ tại chúng ta làm được gì, nhưng hệ tại đến sự vâng phục của chúng ta như thế nào. Vì nếu chúng ta làm mọi sự nhằm quy hướng về mình xem ra nó chỉ là nhưng lâu đài của sự ích kỷ cố thủ. Nhưng việc làm đó không dễ gì tạo ra được sự bình an và hạnh phúc. Trong Tông Huấn Evangelii Gaudium, Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: Mọi người đều phải đến với sự an ủi và khích lệ của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, là điều hoạt động cách mầu nhiệm trong bất cứ ai, vượt trên và vượt ra ngoài những lầm lỗi và sa ngã”. Sự vâng phục chấp nhận thử thách của đan sĩ không chỉ diễn ra một lần là xong, cho nên cần phải tái khám phá mỗi biến cố để đọc ra thánh ý Chúa. Để phá vỡ những rào cản tại sao khó chấp nhận thử thách khi vâng phục, chúng ta cũng cần tìm đến động cơ siêu nhiên, nghĩ lại những mong ước tinh ròng ban đầu của đời thánh hiến để cố gắng vượt qua mọi thử thách cam go.

 

 

 

SUY GẪM VỀ SỰ KIÊN TÂM CHỊU ĐỰNG TRONG VÂNG PHỤC

 

 

M. Jose Rubio Nguyễn Văn Thắng

 

Mỗi người là mỗi cá vị riêng biệt. Mỗi người đều mang trong mình một suy nghĩ riêng, một cái nhìn riêng, một lập trường riêng... Điều đó đã nói lên sự khác biệt giữa người với người. Sự khác biệt ấy gây nhiều tai hại nhưng cũng không thiếu ích lợi trong đời sống cộng đoàn nói riêng và xã hội nói chung. Tuy vậy, dù là ích lợi hay thiệt hại, sự khác biệt luôn khiến con người phải chịu đựng lẫn nhau. Bởi vậy, thánh phụ Biển Đức đã thẳng thắn nói các đan sĩ rằng: “Bậc khiêm nhường thứ tư là trong khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước (TLBĐ 7,35-36).

 

Cái lợi của sự khác biệt là làm cho con người sống cần nhau. Không một ai trong những người “mang thân phận con người” lại có thể sống mà không cần người khác.


Thân phận con người, ấy là thân phận chịu đựng sự thiếu thốn. Sự thiếu thốn đã bám lấy con người ngay từ khi vừa chào đời, và cứ tiếp diễn cho đến khi chết. Sau khi chết, con người có còn phải chịu đựng sự thiếu thốn ấy nữa không? Không ai nắm chắc câu trả lời, và nhiều người không thèm nghĩ đến. Nhưng hết thảy mọi người đã cần nhau, đã giúp nhau có được nhiều điều muốn có; thậm chí còn đáp ứng rất nhiều nhu cầu “họ sẽ muốn có”. Ấy là sự sáng tạo không ngừng, đáp ứng từ những nhu cầu cơ bản như ăn uống đến những nhu cầu tinh thần đủ loại; là khởi đầu của sự tuyên dương con người với con người. Bấy giờ, nhiều người dường như đã quên rằng sự thiếu thốn nơi con người là một vấn đề thuộc bản chất; có nguyên cớ “tự nhiên” (x. St 16-19). Họ nói “con người tự đủ cho chính mình”; không cần Thiên Chúa hay bất cứ một thế lực thần thánh nào khác. Họ là những kẻ lừa dối chính mình, điều tai hại nhất trong xã hội là những kẻ này khá đông.

 

Còn chúng ta, những người đan sĩ hiểu rằng, sự thiếu thốn thuộc về bản chất nơi chúng ta là nền tảng căn bản và phổ biến, giải thích một cách thiết thực, vì sao phải có vâng phục, vì sao có chịu đựng? Vâng phục quy luật tự nhiên hay giới luật của Chúa đều là vâng phục Thánh ý Chúa. Ấy vậy, thánh Biển Đức khẳng định không một chút mơ hồ: “Khi vâng phục ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước”. Chúng ta chịu đựng, không vì để chịu đựng, chúng ta không lừa dối mình, không phản nghịch chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Chúng ta có một mục đích rõ ràng là hạnh phúc của cuộc sống đời đời trong sự kết hiệp với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa là sản nghiệp con được hưởng; là chén phúc lộc dành cho con. Số mạng con chính Ngài nắm giữ” (Tv 15,5). Một cuộc sống càng có mục tiêu càng phải có sự kiên tâm chịu đựng: “Lòng con hãy kiên cường và trông cậy vào Chúa” (TLBĐ 7,35). Thiên Chúa luôn hiện diện trong sự kiên tâm chịu đựng của mỗi người đan sĩ. Đan sĩ muốn phó thác toàn thể con người và mọi chi tiết của cuộc sống của mình cho Thiên Chúa. Bởi lẽ, chúng ta đã có Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống (Ga 14,1-12); Ngài là sự đảm bảo, hướng dẫn, nâng đỡ cho ta, để chúng ta có thể kiên tâm chịu đựng trong suốt cuộc đời.

 

Kiên tâm, chịu đựng là những yếu tố hiện sinh dễ hiểu, không cần đi sâu vào những chi tiết cụ thể. Thế nhưng có hơi khác, “âm thầm” có ý nghĩa gì đối với “kiên tâm chịu đựng”? 


Thật ra, ý nghĩa của “âm thầm” chỉ được làm rõ khi ta đã xác định rõ mục đích của “kiên tâm chịu đựng”, mà mục đích ấy đã được xác định nơi Chúa Kitô: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng (Is 53,7). Những mô tả trong đoạn Isaia này nói về Chúa Giêsu Kitô. Ý nghĩa của sự “âm thầm”, cũng có thể được cắt nghĩa trong đoạn này. Thật vậy, sự “âm thầm” đối với kiên tâm chịu đựng là để vâng phục tuyệt đối thánh ý Thiên Chúa, và đồng thời minh chứng tình yêu đối với Chúa Cha và chúng ta là thụ tạo của Ngài: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, […], bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu Người, tội lỗi của tất cả chúng ta” (Is 53,4-6). Có bao giờ khi “chịu sỉ nhục”, người ta la lối om sòm mà lại có thể gọi là kiên tâm chịu đựng không? Không, đó là sự phản kháng, không phải là vâng phục, không vì tình yêu đối với điều gì ngoài bản thân khốn khổ ấy. Chúng ta muốn kết hợp với Thiên Chúa, muốn được hưởng kiến Thiên Chúa thì “âm thầm” chính là điều mà chúng ta cần họa lại nơi bản thân mình. Họa lại hình ảnh Chúa Kitô, người tôi trung đau khổ, và đồng thời minh chứng tình yêu của chúng ta với mục đích của cuộc sống “âm thầm kiên tâm chịu đựng” là Thiên Chúa và công trình sáng tạo của Ngài.

 

Mang thân phận con người, chúng ta cần nhau, nhưng không phải để lừa dối nhau rằng, con người là cứu cánh của con người. Không thể lấy sự thiếu thốn để làm đầy đủ sự thiếu thốn, con người cần nhau nhưng không phải là sự đầy đủ của nhau. Chúng ta cần Thiên Chúa vì Người tự đầy đủ và làm cho chúng ta đầy đủ. Bởi vậy, nghe lời thánh phụ Biển Đức truyền dạy về đức vâng phục của chúng ta đối với thánh ý Thiên Chúa thật chính đáng: “Gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, vẫn âm thầm kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước”, để một ngày nào đó, như Chúa Giêsu đã hứa trong Kinh Thánh, chúng ta được nghỉ ngơi đời đời trong nhà của “Cha Ta” trên nước Thiên Đàng.

 

 

 

TỪ BỎ Ý RIÊNG ĐỂ VÂNG PHỤC BỀ TRÊN

 

 

M. Hieronymo Nguyễn Đức Hạnh

 

Triết gia Heidegger nhận định rằng “con người là hữu thể tại thế”, bởi vì con người hiện hữu trong thế giới như là hiện diện. Thật vậy, chính sự hiện diện của con người đã đem đến cho thế giới một ý nghĩa. Do đó, con người có một vị thế rất đặc biệt trong thế giới mà không loài sinh vật nào có được. Nói cụ thể hơn, mỗi người chúng ta có một vị trí đặc biệt trong xã hội loài người mà không ai có thể thay thế được. Đó chính là nhân vị của con người; nó thể hiện giá trị nhân phẩm của một con người. Người có nhân vị là người có tự do và khả năng tự quyết; hay nói cách khác, người đó có đủ khả năng làm chủ cuộc sống của mình. Thế nhưng trong bậc khiêm nhường thứ tư, thánh Biển Đức dạy các môn sinh của mình không những phải vâng phục bề trên, mà còn phải kiên tâm chịu đựng một cách âm thầm những cam go, trái ý hay những sỉ nhục mình gặp phải trong khi vâng phục. Như thế, có phải cha thánh đang làm mất nhân phẩm và hạ thấp phẩm giá của người đan sĩ, khi làm cho họ rơi vào tình trạng “vong thân”, hay là bị đánh mất chính mình?

 

Để hiểu rõ vấn đề này, thiết nghĩ điều đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu: thế nào là nhân vị của một con người? Khi nói đến nhân vị là nói đến địa vị hay vị trí của một con người trong xã hội. Mà khi nói đến địa vị trong xã hội là nói đến các mối tương quan giữa con người với con người. Thật vậy, con người là hữu thể mang tính xã hội; cho nên không có ai hiện hữu một mình, chúng ta sống là sống “cùng” và sống “với” tha nhân như triết gia Levinas khẳng định: “Chính tha nhân tạo nên tôi”. Do đó, nếu chúng ta không ý thức được vai trò của tha nhân trong việc cấu thành nên nhân vị của mình, chúng ta dễ dàng rơi vào chủ nghĩa cá nhân, coi mình như một ốc đảo hay trung tâm của vũ trụ.

 

Đó là nhân vị của một người trong xã hội. Còn chúng ta, trong đức tin và dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta chân nhận rằng phẩm giá của con người nằm trong chính bản chất nội tại của mỗi người: là hình ảnh của Thiên Chúa hằng sống; và nhân vị của mỗi người được xây dựng cùng với người khác trong mối tương quan “huynh - đệ”, và là con của cùng một Cha trên trời như lời thánh Tông Đồ nói: “Chúng ta được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà cho Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí” (Ep 2,22). Tuy nhiên do tội lỗi, chúng ta đã làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình và bẻ gãy các mối tương quan liên vị đó. Do đó, để phục hồi phẩm giá và hàn gắn lại các mối tương quan đó, nhất thiết cần phải xây dựng lại hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi người chúng ta. Nhưng làm sao để xây dựng lại hình ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta? Thánh Biển Đức đã dạy cho chúng ta thực hiện công việc đó.  

 

Thật vậy, thánh Biển Đức như một kỹ sư lành nghề hướng dẫn những người thợ là các đan sĩ của ngài từng bước xây dựng lên ngôi đền đài thiêng liêng của mỗi người. Để có thể xây lên ngôi đền đài thiêng liêng, điều đầu tiên người đan sĩ cần phải làm là phá bỏ đi những tàn tích và những hoang phế của con người cũ. Để làm được điều này, thánh Biển Đức chỉ cho chúng ta biết cách thực hiện, đó là từ bỏ ý riêng và sống vâng phục bề trên; hơn nữa, còn phải “âm thầm kiên tâm chịu đựng” những bất công mà mình gặp phải trong khi vâng phục. Đây quả là điều rất khó và dường như nó đi ngược lại với bản tính tự nhiên của con người; bởi vì xu hướng của bản tính tự nhiên nơi con người là luôn luôn muốn thể hiện mình. Chính vì thế cha thánh đã trích dẫn đến “bảy” câu Kinh Thánh[2] để nói lên giá trị của bậc khiêm nhường thứ tư này. Con số 7 là con số hoàn hảo trong Kinh Thánh; cho nên, khi dùng tới bảy câu Kinh Thánh, dường như cha thánh muốn nói đến sự tròn đầy, hay giá trị tuyệt vời của hành vi nhẫn nhịn chịu đựng trong bậc khiêm nhường này. Ngoài ra để kết thúc bậc khiêm nhường thứ tư, thánh Biển Đức viết : “Cùng với thánh Tông đồ Phaolô, họ chịu đựng anh em giả hiệu, và chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình” (TL 7,43). Cha thánh dường như muốn nhắn gửi các đan sĩ của ngài rằng, đây chính là nhân đức cần thiết cho một người tông đồ Chúa Kitô. Cho nên, khi nào chúng ta đã tập được bậc khiêm nhường thứ tư này thì lúc đó chúng ta cũng có thể nói rằng: “cùng với các thánh Tông Đồ, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì danh Đức Kitô” (x. Cv 5,41).

 

Như vậy, việc vâng phục và cam chịu sỉ nhục trong bậc khiêm nhường thứ tư này không phải là hành vi đánh mất chính mình, nhưng là hành động cần thiết và quan trọng trong tiến trình xây dựng hình ảnh người đan sĩ theo mẫu gương Chúa Giêsu, như thánh Tông Đồ đã dạy: “Anh em hãy giết chết con người cũ nơi anh em và mặc lấy con người mới theo hình ảnh Chúa Kitô” (x. Cl 3,5.10). Ngoài ra, đây cũng là hành động cần thiết để đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).

 

Hành động “âm thầm chịu đựng” cũng không phải là hành vi của kẻ hèn nhát và nhu nhược; trái lại, đây là hành động anh hùng của những con người can đảm vì có một niềm tin-cậy-mến vững vàng. Bởi vì, theo như thánh Biển Đức, hành động này thể hiện nhân đức “kiên trung” trong hành vi “bền chí” được trích trong câu Kinh Thánh Mt 24,13: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu sống” (TL 7,36); ngoài ra nó còn là biểu hiện của “người tôi tớ trung tín” trong Tv 43,22 (x. TL 7,38); biểu hiện của một đức tin vững vàng vì niềm hy vọng (x. TL 7,39); và đức “nhẫn nại” để chu toàn luật Chúa (x. TL 7,42). Như thế, việc “âm thầm chịu đựng” của người đan sĩ có một giá trị thật lớn lao. Nó ví được như hành động vét sạch tất cả các bồn chứa trong lòng mình để cho Thiên Chúa trào đổ ân sủng của Người vào đó, bởi vì “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5,5).

 

Tóm lại, trong bậc khiêm nhường thứ tư này, thánh phụ đã yêu cầu các đan sĩ của ngài hiến thân cho Chúa Kitô một cách triệt để hơn qua việc “âm thầm kiên tâm chịu đựng” mọi cam go trái ý hay bất cứ sỉ nhục nào gặp phải trong khi vâng phục. Đây dường như là một điều không tưởng và trái với quan niệm của con người ngày nay về tự do nhân vị. Nhưng thực ra, cha thánh đang từng bước hướng dẫn các đan sĩ của ngài đi vào mầu nhiệm tự hủy của Đức Kitô, để từ đó xây dựng lại hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi người, cũng như các mối tương quan liên vị mà trước kia đã bị tội lỗi làm cho ra hư hại. Bởi vì, “nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24).

 

 

 

VÂNG PHỤC – NÉT ĐỒNG HÌNH ĐỒNG DẠNG VỚI CHÚA GIÊSU

 

 

M. Gioan Kim Khẩu Nguyễn Thế Tiến

 

Cuộc sống như một bức tranh được tạo nên từ nhiều màu sắc khác nhau. Có màu hồng của sự thành công nhưng cũng có màu đen của sự thất bại. Trong đời sống cộng đoàn, không phải lúc nào cũng bình yêu phẳng lặng, nhiều khi có những cơn sóng nổi lên. Điều này ít nhiều dễ làm ta nản lòng, chùn bước. Hiểu được như vậy, thánh Biển Đức đã nói trong bậc khiêm nhường thứ tư rằng: “Trong khi vâng phục, ta có gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào, hãy kiên tâm chịu đựng; không nản lòng, không lùi bước” (TL 7,35). Thánh phụ muốn các môn sinh của mình vâng phục trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi gặp điều trái ý và đừng nản lòng trước những thử thách ấy nhưng hãy kiên nhẫn chịu đựng nhằm đạt được phần thưởng là ơn cứu độ.

 

Thánh Biển Đức luôn đề cao đức vâng phục. Ngài gọi đức vâng phục là “bước đầu của đức khiêm tốn” (TL 5,1), là khởi điểm của đời sống tu trì. Trong suốt 73 chương của quyển tu luật, thánh Biển Đức đã nhiều lần nói đến sự vâng phục một cách trực tiếp và gián tiếp. Bởi vì đức vâng phục là nguyên tắc và mẫu mực của đời sống đan tu. Ngay lời mở, thánh nhân viết: “Con ơi, lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời cha hiền khuyên nhủ và thực hiện cho bằng được, để nhờ gắng công vâng phục, con trở về với Đấng, con đã xa lìa vì ươn lười bất tuân. Vậy giờ đây cha nói con nghe, dù con là ai, mà đoạn tuyệt với ý riêng, mang lấy khí giới mạnh mẽ oai hùng của đức vâng phục, để chiến đấu cho Chúa Kitô, Vua chân thật” (TL, Lời mở, 1-3). Không chỉ vâng phục bề trên nhưng thánh phụ còn truyền dạy các đan sĩ: “Anh em hãy vâng lời nhau” (TL 71). Trong một đan viện, ở đó các đan sĩ vâng lời nhau sẽ là hình ảnh của một thiên đàng, vâng phục là một cách chia sẻ gánh nặng cho nhau. Đức vâng phục rất cao cả và cần thiết cho đời sống tu trì, nhưng phải vâng phục như thế nào?

 

Vâng phục một cách tự do. Đức Kitô đã vâng phục Chúa Cha một cách hoàn toàn tự nguyện, người tu sĩ là người theo sát Chúa Kitô vì thế mà người tu sĩ cũng vâng phục bằng cả con tim và tâm hồn. Thánh Phaolô gọi đó là thứ vâng phục của người môn đệ: “Đừng chỉ vâng lời trước mặt, như muốn làm đẹp lòng người ta, nhưng như nô lệ của Đức Kitô, đem cả tâm hồn thi hành ý Thiên Chúa” (Ep 6,6). Đó là thứ vâng phục mà thánh Biển Đức dạy các đan sĩ phải có. Hơn thế nữa, thánh nhân còn muốn các đan sĩ phải vâng phục ngay cả “khi gặp những điều cam go trái ý và bất cứ sự sỉ nhục nào” mà phải “âm thầm kiên tâm chịu đựng” (TL 7,35). Các nhà tu đức thời xưa gọi sự vâng phục này mang tính cách “chịu lụy” hay “vâng lời chịu lụy”. Điều đáng nói là sự vâng phục này có làm mất phẩm giá của con người như nhiều người ngày nay vẫn nghĩ hay không?

 

Khi nghĩ như vậy, thực ra họ chưa hiểu thế nào là vâng phục theo Kitô giáo. Công đồng Vaticano II khẳng định: “Đức vâng phục trong đời sống tu trì chẳng những không làm giảm bớt phẩm giá của con người, nhưng còn giúp cá nhân trưởng thành nhờ phát triển sự tự do của con cái Thiên Chúa”[3]. Như vậy, vâng phục không hủy hoại tự do của con người, trái lại nó cũng là thứ vâng phục đem lại sự bình an cho chính mình và cho cả cộng đoàn. Con người thích cai trị và sai khiến người khác, khi vâng phục là chấp nhận thua thiệt và lệ thuộc vào người khác. Qua sự vâng phục, chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Tuy nhiên, trong một thời đại quá đề cao chủ nghĩa cá nhân như hiện nay thì vâng phục nhau là một điều không hề dễ. Vì vậy, cần có một phương thế hữu hiệu để thực hành đức vâng phục, đó chính là sự khiêm tốn.

 

Chúng ta được sinh ra mang trong mình thân phận con người đầy những giới hạn và khuyết điểm. Vì vậy, khiêm tốn sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về chính mình và người khác, như thánh Tông đồ đã nói: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức” (Rm 12,3). Người đan sĩ luôn ý thức về sự yếu đuối của mình mà hết lòng trở về với Thiên Chúa, Đấng “con đã xa lìa vì ươn lười bất tuân” (TL, Lời mở, 2). Để sống được như vậy, người đan sĩ phải noi gương theo Đức Kitô. Ngài mời gọi chúng ta: “Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Nơi Người, chúng ta bắt gặp một mẫu gương đích thực về sự hiền lành và khiêm nhường. Người là Chúa nhưng đã hạ mình trong thân phận của một người tầm thường (x. Pl 2,7). Người là Thầy nhưng đã cúi mình xuống rửa chân cho các môn đệ, Người hiền lành như một con chiên bị xén lông mà chẳng hề mở miệng kêu ca (x. Is 53,5-7) và Người đã sống sự khiêm nhường tới tột cùng là cái chết nhục nhã trên thập giá. Nhưng sự hiền lành và khiêm nhường đó lại trở thành sức mạnh cho chúng ta khi gặp những gian nan thử thách.

 

Sống vâng phục luôn là một thách thức của người đan sĩ, đặc biệt trong thời đại bị tục hóa hôm nay. Xu thế của con người muốn đạp đổ mọi rào cản, luật lệ cấm đoán để vô vi an hưởng cuộc sống tự do. Bậc khiêm nhường thứ tu mời gọi các đan sĩ một sự hy sinh từ bỏ và vác thập giá không chỉ một lúc nhưng suốt cả cuộc đời. Bởi vì vâng phục của người đan sĩ là con đường đi tới thập giá và cái chết để được ơn cứu độ. Theo gương Chúa Giêsu là người dẫn đường chỉ lối, là mẫu gương của sự vâng phục, người đan sĩ “vâng lời không chậm trễ” bằng một thái độ vui vẻ. Vì biết rằng, Đức Giêsu phải qua vâng phục mới được thiện toàn. Do đó, dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng can đảm vượt qua mà không nản lòng vì chính Ngài đã hứa ban thưởng cho ai kiên trì chịu đựng: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu sống” (Mt 24,13).

 

                                                                  

 

 

VÂNG PHỤC ĐỂ TRỞ NÊN GIỐNG CHÚA KITÔ

 

 

M. Anton Padova Trần Trọng Bình

 

“Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14,11). Lời của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng lòng khiêm nhường vô cùng quan trọng và cần thiết đối với những ai muốn trở nên trọn lành. Có thể nói nhân đức khiêm nhường là mẹ của mọi nhân đức. Chỉ có người có nhân đức khiêm nhường mới có thể vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự. Cảm nghiệm được tầm quan trọng của đức khiêm nhường đối với sự nên trọn lành của con người, thánh Biển Đức đã dành chương bảy trong Tu Luật của ngài để nói về đức khiêm nhường. Trong đó, ở bậc khiêm nhường thứ tư, ngài viết: “Trong khi vâng phục, hãy âm thầm kiên tâm chịu đựng nếu gặp điều cam go, trái ý hoặc bất cứ sỉ nhục nào” (TL 7,35). Vậy, tại sao thánh Biển Đức muốn các đan sĩ vâng phục những người đại diện Thiên Chúa trong những điều cam go, trái ý và cả những điều sỉ nhục nữa? Dưới đây, người viết xin trình bày hai lý do để trả lời cho câu hỏi trên.

 

Lý do thứ nhất, thánh Biển Đức muốn người đan sĩ trở nên giống Chúa Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Cả cuộc đời của Chúa Kitô là một hành trình hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Ngài vâng phục Chúa Cha trong mọi sự, cả trong đau khổ lẫn cái chết của Ngài. Lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha trong vườn Giết-sê-ma-ni nói lên tất cả: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Xin như thế, nhưng Ngài vẫn sẵn sàng trong tư thế vâng phục: “Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Lời của thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi tín hữu Philípphê cho ta thấy rõ hơn sự bỏ mình của Chúa Giêsu để vâng theo ý Chúa Cha: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ … Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Và trong thư gửi tín hữu Do Thái, tác giả cũng nói về tinh thần vâng phục của Chúa Kitô đối với Chúa Cha, cả trong đau khổ: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8).

 

Như vậy, qua sự tự hạ, bỏ mình của Chúa Giêsu để vâng theo ý muốn của Chúa Cha, Ngài đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại, mang ơn cứu độ cho những ai muốn hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa: “Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,9). Vậy nên, người đan sĩ muốn giống Chúa Kitô, nhất thiết phải từ bỏ chính mình để vâng phục thánh ý Thiên Chúa qua Giáo hội và những người đại diện Ngài ở trần gian. Người đan sĩ phải vâng phục bề trên của mình như Chúa Kitô đã vâng phục Chúa Cha. Ngài vâng phục Chúa Cha cả trong đau khổ, tủi nhục lẫn cái chết: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26,42). Để nên giống Thầy mình, người đan sĩ phải sẵn sàng vâng phục những điều trái ý và cả những điều sỉ nhục với lòng khiêm nhường, vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Được như thế, cuộc đời của người đan sĩ sẽ là hy tế kết hợp với hy tế của Chúa Kitô trên thập giá để dâng lên Chúa Cha, ngõ hầu cứu rỗi các linh hồn.

 

Lý do thứ hai, thánh Biển Đức muốn các đan sĩ ở mọi thời đại là những người nối bước đức vâng phục của Chúa Kitô để làm đẹp lòng Chúa Cha. Khi còn sống kiếp phàm nhân, Chúa Kitô đã thực thi đức vâng phục cách trọn vẹn đối với Chúa Cha. Ngài tuân phục Chúa Cha trong mọi sự, cả trong đau khổ lẫn cái chết của Ngài: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8). Qua đó, Ngài đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Như vậy, sự vâng phục của Chúa Kitô có giá trị cứu độ thế giới. Tuy nhiên, công trình cứu độ vẫn còn phải tiếp tục cho đến ngày tận thế. Vì vậy, người đan sĩ tham gia vào sứ mạng cứu độ của Chúa Kitô bằng sự hạ mình, từ bỏ chính mình, từ bỏ bản thân để vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự, trong cả những điều hợp ý lẫn trái ý mình. Chính Chúa Giêsu đã đưa ra điều kiện này khi Ngài nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Vậy, bỏ mình, vác thập giá là điều kiện tiên quyết mà người đan sĩ phải có để theo Chúa Giêsu, để nối bước Ngài. Người đan sĩ vác thập giá chính là vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự, trong nghịch cảnh và trong cả sự sỉ nhục với lòng yêu mến Ngài. Như vậy, sự vâng phục trong hy sinh của người đan sĩ sẽ là hiến tế dâng lên Chúa Cha để góp phần vào công trình cứu độ thế giới. Nếu được như thế, họ là những người đang tiếp bước Chúa Kitô trên con đường “thi hành ý muốn của Chúa Cha” (Ga 4,34).

 

Tóm lại, qua bậc khiêm nhường thứ tư trong chương bảy của Tu Luật, thánh Biển Đức đã chỉ dẫn cho các đan sĩ trong mọi thời đại phương thế để trở nên hoàn thiện. Đó là các đan sĩ hãy trở nên giống Chúa Kitô trong sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Chúa Kitô đã đến thế gian để “làm theo ý Chúa Cha” (Ga 4,34) trong mọi sự, cả trong đau khổ lẫn cái chết của Ngài. Để trở nên giống Thầy mình, người đan sĩ phải bỏ mình để vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự, trong cả những điều trái ý, cam go và cả những điều sỉ nhục nữa. Được như thế, người đan sĩ dâng hiến ý muốn của mình làm của lễ dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó họ được kết hiệp với ý muốn cứu độ của Người. Hơn nữa, thánh Biển Đức cũng mong muốn người đan sĩ là cánh tay nối dài đức vâng phục của Chúa Kitô trong sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa để góp phần vào công trình cứu độ của Ngài.

 

 

 

 

 

_________________________

 

[1] Vâng Phục “Nói vâng cách vui vẻ là dấu chỉ một tâm hồn thánh thiện” số 406.

[2] Mt 24,13; Tv 26,14; Tv 43,22; Rm 8,36; Rm 8,36; Tv 65,10; Tv 65,12; Mt 5,39-41 

[3] Perfectae Caritatis – Sắc lệnh về canh tân đời sống Dòng Tu, số 14.