Bài giảng

Chú giải Lời Chúa CN Phục Sinh: «NGÀY CỦA CHÚA»

Đức Kitô đã đã trỗi dậy từ cõi chết, là một sự xác tín sau khi được chứng kiến và kinh qua những sự việc đã xảy ra trong ngôi mộ trống. Sự xác tín đó đã trở thành niềm tin, trở thành cuộc sống.

 

 

«NGÀY CỦA CHÚA»

(Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4 (1Cr 5,6b-8); Ga 20,1-9)

 

Lm. Quốc Vũ

 

Phần I: Ý nghĩa các bài đọc

 

1.1. Bài đọc I: Chúng tôi đã được cùng ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại

 

Điểm chính yếu trong lời rao giảng của các tông đồ - là Kerygma - là lời khẳng định rằng Đức Giêsu, người Nazareth, bị đóng đinh tại Giêrusalem, đã sống lại và đã lãnh nhận từ Thiên Chúa mọi quyền năng trên trời - dưới đất.

 

Đoạn sách Công vụ tông đồ hôm nay là một trong những bài diễn từ có tính truyền thống trong sứ điệp rao giảng của Giáo hội thời sơ khai. Thánh Phêrô đã giảng giải cho viên sĩ quan ngoại giáo Cornêliô và gia đình của ông rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, hầu dẫn đưa họ đến với ơn hoán cải qua việc lãnh nhận bí tích rửa tội.

 

Có thể ghi nhận rằng, khái niệm «ngày thứ ba» (c.40a) trong huấn giáo thời Giáo hội sơ khai, có mối liên hệ rất gần với khái niệm của người Do Thái về việc sống lại của những người đã chết. Thật vậy, theo quan niệm của người Do Thái, ba ngày là thời gian cần thiết cho tất cả các tín đồ Do Thái giáo đã chết, có thể sống lại và đến Giêrusalem để đối diện với cuộc phán xét chung cục.

 

Theo đức tin của các Kitô hữu đầu tiên, sự kiện sống lại của Đức Kitô đã khơi mào cho quá trình sống lại của những người công chính được mời gọi tái thiết lại Nước Thiên Chúa. Đức Kitô, «người công chính», đã sống lại đầu tiên để Chúa Cha trao gởi cho Người một dân mới.

 

Cuối cùng, một từ ngữ Do Thái khác diễn tả «Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy» (c.40b), hàm ý nói rằng Đức Giêsu đã sống lại nhờ sự can thiệp đầy quyền năng của Chúa Cha.

 

1.2. Bài Tin Mừng: Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết

 

Chỉ sau khi Đức Giêsu sống lại, các tông đồ mới hiểu những điều mà Kinh Thánh đã nói tới qua các ngôn sứ về Đấng Kitô và về tất cả những điều mà chính Đức Giêsu đã nói với họ trước kia.

 

Theo trình thuật của thánh Gioan, Maria Mađalêna là người đầu tiên nhận ra ngôi mộ trống và đã báo cho các tông đồ. Phêrô và Gioan vừa chạy vừa nghĩ rằng xác thầy mình đã bị một ai đó lấy đi, nhưng giả thuyết ấy phút chốc đã tan biến khi các ông thấy tấm khăn che đầu và các băng vải khác đều được xếp ngăn nắp. Lúc đó, trong tâm trí các ông nảy sinh những hoang mang, và thực sự bối rối trong việc xem xét các sự kiện đang xảy ra: các ông đã nhớ lại tất cả mọi chuyện về thầy mình, các điều Kinh Thánh nói, và nhất là điều mà chính Người đã trối lại cho các ông là hãy làm chứng cho Người: «Anh em hãy làm chứng cho Thầy khởi đầu từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất» (Lc 24,47).

 

Như vậy, niềm tin của các tông đồ vào sự phục sinh của Đức Giêsu, đã trải qua một con đường không phải dễ dàng, nhưng đầy hoang mang và thử thách.  

 

1.3. Bài đọc II: Cl 3,1-4: Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự

 

Thánh Phaolô đã nói cho các tín hữu thành Côrintô rằng sự tự do của người Kitô hữu hoàn toàn khác với những thực hành gò bó của dân ngoại và những người lạc giáo. Ngài tóm kết lại ý nghĩa và sự thánh thiêng của bí tích rửa tội, vì nhờ chịu phép rửa mà người Kitô đã chết đối với tội và được trỗi dậy cùng với Đức Kitô trong đời sống mới, được đưa vào trong thực tại thần thiêng với Người. Ơn cứu độ mà Người thực hiện không phải do thế gian này hay là sản phảm do tay con người, mà là ân huệ đến từ trên cao, do quyền năng của Thiên Chúa.

 

Đời sống hiện tại của người Kitô hữu có một giá trị thiêng thánh, bởi được không ngừng biến đổi và được tháp nhập vào trong đời sống mới của chính Đức Kitô, Đấng là cùng đích của nhân loại và niềm hy vọng sẽ được «cùng Người hưởng phúc vinh quang» (c. 4).

 

- 1 Cr 5,6b-8: Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới

 

Con Chiên Vượt Qua của các Kitô hữu là chính Đức Giêsu, ai ăn thịt con chiên này, phải có sự chuẩn bị từ bên trong. Nghĩa là phải «thanh sạch và chân thành». Vì thế, cần phải loại bỏ men cũ là tội lỗi và sự dối trá, «để trở nên bột mới, vì anh em là bánh không men» (c. 7).

 

Trong cuộc Vượt Qua Mới này, theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, những yếu tố của bàn tiệc ly chính là Đức Kitô và các Kitô hữu: Đức Kitô là Con Chiên, còn các Kitô hữu là bánh không men.

 

Phần II: Suy niệm - Ngày của Chúa

 

«Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy vui mừng hoan hỷ. Halleluia! Halleluia!» (Tv 117,24).

 

 

1. Sau thời gian 40 ngày Mùa Chay, hôm nay, chúng ta đang ở trong bầu khí trọng đại của Tam Nhật Thánh (Triduum Sacrum) là ba ngày quan trọng nhất trong năm phụng vụ để kỷ niệm Bữa Tiệc Ly, Cuộc Khổ Nạn và Sự Phục sinh của Chúa Kitô. Tam Nhật Thánh, theo nghĩa thần học, còn được gọi là Tam Nhật Vượt Qua (Triduum Paschale), được cử hành hằng năm, để tưởng nhớ việc Thiên Chúa đã giải thoát con cái Israel khỏi đất Ai Cập (x. Xh 12,1-14), và chính vì Chúa Kitô đã chết đúng vào dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, nên từ Vượt Qua đã mang một ý nghĩa mới: đó là cuộc Phục Sinh vinh hiển của Chúa Kitô, chính Người đã vượt qua cái chết mà bước vào cõi sống.

 

2. “Đức Kitô phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20,9)

 

Đức Kitô đã đã trỗi dậy từ cõi chết, là một niềm vui lớn sau những ngày thất vọng, chán chường của các môn đệ.

Đức Kitô đã đã trỗi dậy từ cõi chết, là sự bình an sau những nỗi sợ hãi hoang mang của những người phụ nữ khi đi thăm mộ Chúa.

Đức Kitô đã đã trỗi dậy từ cõi chết, là một sự xác tín sau khi được chứng kiến và kinh qua những sự việc đã xảy ra trong ngôi mộ trống. Sự xác tín đó đã trở thành niềm tin, trở thành cuộc sống.

 

Đức Kitô đã đã trỗi dậy từ cõi chết, Đức Kitô đã sống lại, Đức Kitô đã phục sinh,… là những cách nói khác nhau diễn tả niềm tin của các môn đệ, là cốt tủy của những lời rao giảng của các tông đồ thời hậu phục sinh được gọi là Kerygma, là hồn của Giáo hội thời sơ khai khi họp nhau để cử hành nghi lễ Bẻ Bánh Thánh Thể (fractio panis), chia sẻ tình huynh đệ cộng đoàn (agape) và rao giảng Tin Mừng Chúa sống lại (kerygma) trong Ngày Của Chúa (dies Domini).

 

Việc cử hành Ngày của Chúa trong thời Giáo hội sơ khai là nền tảng cấu trúc nền phụng vụ của Giáo hội sau thời bách hại. Thực vậy, trong suốt thời kỳ bách hại, các Kitô hữu thường phải cử hành phụng vụ Ngày của Chúa trong khung cảnh âm thầm và không có nơi chốn cố định. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ thứ IV, sau biến cố hoàng đế Constantinus trở lại đạo và ra sắc chỉ Milano chấm dứt sự bách hại các Kitô hữu trong toàn quốc, Giáo hội được tự do trong việc sống đạo và cử hành phụng vụ. Vào năm 325, công đồng Nicea đã ấn định việc cử hành lễ Phục sinh vào Chúa nhật thứ I sau tuần trăng tròn tiếp theo của đầu mùa xuân, rơi vào khoảng thời gian từ 21 tháng 3 đến 25 tháng 4 hằng năm. Kể từ đó, lễ Phục sinh chính thức được đưa vào lịch phụng vụ của Giáo hội.

 

3. Ngày nay, trong lịch phụng vụ của Giáo hội, lễ Phục sinh được cử hành trong suốt thời gian 8 ngày, được gọi là Tuần Bát Nhật Phục Sinh, với bậc lễ xếp trên cả các ngày lễ trọng về Chúa, Đức Mẹ và các thánh. Truyền thống Giáo hội coi mỗi ngày trong Tuần Bát Nhật như Chúa nhật Phục sinh. Điều này có nghĩa là những ngày lễ cử hành niềm hân hoan của Chúa nhật Phục sinh được kéo dài từ ngày thứ nhất đến ngày thứ tám.

 

+ “Sáng sớm ngày thứ thất trong tuần” (Ga 20,1). Cụm từ ngày thứ nhất ở đây tương ứng với ngày thứ nhất của người Do Thái, là ngày thứ nhất trong công trình sáng tạo: “Thiên Chúa dựng nên ánh sáng qua một buổi chiều và một buổi sáng, đó là ngày thứ nhất” (St 1,3). Như thế, trong ngày thứ nhất, Thiên Chúa đã tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, với ý nghĩa, trong ngày thứ nhất của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Đức Kitô là ánh sáng chiến thắng bóng tối, là ngày Người trỗi dậy từ cõi chết để khai mở sự sống mới, biểu trưng cho một cuộc sáng tạo mới. Thánh giáo phụ Justino là người đầu tiên nói về sự tương ứng giữa ngày thứ nhất trong cuộc sáng tạo và ngày Đức Kitô phục sinh: “Chúng tôi tổ chức cộng đoàn vào ngày mặt trời, vì đó là ngày thứ nhất mà Thiên Chúa đã phá hủy bóng tối để tạo ra thế giới, và vì Chúa Kitô, Đấng cứu độ chúng ta, trong chính ngày đó đã sống lại từ cõi chết” (Apologia I,67,7).

 

+ “Tám ngày sau” (Ga 20,26)

 

Tại sao là “Tám ngày sau” mà không phải là ngày thứ tám? Chúng ta để ý, trong khi nói về ngày thứ nhất, thánh sử Gioan nói: “sáng sớm ngày thứ nhất, hoặc buổi chiều ngày thứ nhất”; nhưng trong khi nói về ngày thứ tám thì là lại không. Bởi vì, ngày thứ tám, là ngày cánh chung, nên sẽ không có “buổi chiều và buổi sáng”, không còn có tính thời gian nữa. Ngày thứ tám ở đây ám chỉ một thực tại mới mẻ, tức là nó loan báo hạnh phúc vĩnh cửu, một cuộc gặp gỡ cuối cùng của Đấng Phục sinh quang lâm, bởi ngày thứ tám chỉ ra rằng không còn bất cứ sự tiếp nối nào về thời gian nữa. Nghĩa là, rồi sẽ đến chu kỳ của ngày sau ngày sabat sẽ không là ngày thứ nhất nữa, mà sẽ là ngày thứ tám - ngày cánh chung.

 

Nói về ngày thứ tám, tính biểu tượng của nó đạt đến tột đỉnh vào thế kỷ thứ IV với các giáo phụ, khi số tám đạt đến ý nghĩa của sự hoàn hảo mang chiều kích cánh chung. Các giáo phụ lấy lại sự song đối giữa Lụt Hồng Thủy với bí tích Rửa Tội, trong đó, tám người được cứu trong con tàu của ông Nôê tượng trưng cho một cuộc sáng tạo mới, so với những người được tái sinh trong Đức Kitô Phục sinh.

 

Thánh Augustino, trong tác phẩm “De Civitate Dei” (Thành Đô Thiên Chúa) đã nói về mầu nhiệm của ngày thứ tám như sau: “Ngày thứ bảy sẽ là ngày Sabat của chúng ta, cùng đích của nó sẽ không còn là buổi chiều nữa, nhưng Chúa nhật tiếp sau là ngày thứ tám muôn đời, ngày được thánh hiến bởi sự phục sinh của Đức Kitô, ngày tiên báo sự nghỉ ngơi không chỉ tinh thần mà cả thân xác nữa” (22,30).

 

Công đồng Vaticano II, trong hiến chế Phụng Vụ Thánh, số 106, khẳng định rằng: “Theo Tông truyền bắt nguồn từ chính ngày Chúa Kitô sống lại, Giáo hội cử hành mầu nhiệm phục sinh vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật đáng gọi là ngày của Chúa – Dies Domini”.

 

Thông điệp Dies Domini của thánh giáo hoàng Gioan Phaolo II, số 26, đã nói về ngày Chúa nhật như “ngày thứ tám, hình ảnh của sự vĩnh cửu”.

 

+ Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ tám, là thời gian của Giáo hội. Trong thời gian này, Giáo hội luôn họp nhau để cử hành Bẻ Bánh, cùng nhau cầu nguyện, đồng tâm nhất trí, và được sai đi. Tuy không thiếu những sự bách hại từ bên ngoài, và cả những chia rẽ từ bên trong; nhưng Giáo hội vẫn được Thánh Thần của Đấng Phục Sinh luôn đồng hành, dẫn dắt, cũng như mời gọi sống và loan truyền niềm tin trong sự trung thành, để xứng đáng đạt đến việc “được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết” (1Pr 1,4-5) là ngày Đấng Phục Sinh quang lâm vào ngày thứ tám – ngày cánh chung.