Bài giảng

CÁC BÀI CHIA SẺ CN IV MV - LỄ GIÁNG SINH - TUẦN BÁT NHẬT GS (Lm. Hiền Lâm)

Đức Maria luôn hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Kitô vì được “đầy ơn phúc” thì cũng “nhờ đức tin”, Đức Maria chia sẻ vào mầu nhiệm này trong tất cả chiều kích của cuộc đời trần thế của Người. Mẹ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, đồng thời một cách âm thầm, Mẹ làm cho mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện nơi con người.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, NĂM CKết quả hình ảnh cho hình ảnh Chúa Hài Đồng

THỨ HAI: NGÀY 24 THÁNG 12

THỨ BA: CHÚA GIÊSU GIÁNG SINH

THỨ TƯ: T. STEPHANO Tđ TIÊN KHỞI

THỨ NĂM: THÁNH GIOAN TÔNG ĐỒ

THỨ SÁU: CÁC THÁNH ANH HÀI

THỨ BẢY: NGÀY 29 THÁNG 12

 Các bài chia sẻ: Lm. Hiền Lâm

 

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh xuân, gif

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG – NĂM C 

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1, 39-45

Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."


II. SUY NIỆM

“MẸ SỐNG LÀ PHỤC VỤ, MẸ ĐI ĐỂ TRAO GIÊSU”

Đức Maria vội vã lên đường, đi thăm người bà con để chia sẻ cho nhau. Sự vội vã nói lên tinh thần người có Chúa thì không giữ cho riêng mình, mà được thôi thúc mau mắn đem Chúa đến cho người khác để cùng được cứu độ.

Ở Nazareth, Đức Maria là người đầu tiên được mạc khải cho biết sự mang thai lạ thường của Elisabeth, một người chị họ ở làng Ain Carem (cách Giêrusalem 9km và cách Nazareth hơn 100km).  Biến cố thăm viếng trước hết làm nổi bật lên hình ảnh Đức Maria là vị truyền giáo đầu tiên khi đem Chúa đến cho người khác. Sự xuất hiện của Mẹ sau tiếng chào đã làm cho bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần và Gioan Tẩy Giả được cứu độ. Cũng tựa như Phêrô được sai đến nhà Cornêliô, khi ông vừa nói thì Thánh Thần ngự xuống trên nhà ông. Biến cố gặp gỡ giữa Maria và Elisabeth đã làm nổi bật lên hai đặc trưng: Đức tin và sự trao ban phục vụ.

 

1. Mẹ thật có phúc vì đã tin. 

Như đã nói ở trên, với khoảng cách giữa Nazareth và Ain Carem với liên lạc thời đó, tin tức về một phụ nữ mang thai ở cách xa nhau như thế, Maria chỉ biết được nhờ tin vào Lời Chúa qua miệng thiên sứ Gabriel mà thôi. Niềm tin của Đức Maria được khẳng định khi Mẹ thưa “xin vâng” một cách dứt khoát và điều này được chính bà Elisabeth đã thốt lên lời ca ngợi “Phúc cho bà là kẻ đã tin” (Lc 1, 45).

Lúc nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, Đức Maria cũng chưa biết Thiên Chúa sẽ đưa mình tới đâu, nhưng Đức Maria chắc chắn tin vào Thiên Chúa và chương trình của Người. Chính lòng tin sắt đá ấy đã làm cho Đức Maria xứng đáng được đón nhận Chúa Giêsu Kitô vào trong dạ mình, thông chia cho Người bản tính nhân loại để Người trở nên một phần tử loài người mới, và bắt đầu từ đó, một nhân loại mới đã được thai sinh.

Từng câu từng chữ trong lời ca tụng của bà Elisabeth đều mang đầy ý nghĩa, nhưng điều bà nói cuối cùng mới thực quan trọng: “Em thật có phúc, vì đã tin…” (Lc 1, 49) . Câu nói này có thể đặt cận kề với tước hiệu “đầy ơn phúc” trong lời chào của thần sứ. Qua lời chào của thiên sứ Gabriel và lời tán dương của bà Elisabeth dành cho Đức Maria, cho thấy chân lý về Đức Maria hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Kitô, chỉ vì Mẹ đã tin .

Giây phút quyết định là lúc truyền tin, và các lời của bà Elisabeth: “Em thật có phúc vì đã tin” được áp dụng vào giây phút chính xác đó. Với cả lý trí và ý chí, Đức Maria đã đáp lại tiếng Chúa bằng cả con người trọn vẹn đầy nhân tính và nữ tính, và lời đáp trả của đức tin nàybao một sự cộng tác hoàn hảo với hồng ân trợ lực của Thiên Chúa và một sự sẵn sàng trọn vẹn cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng dùng hồng ân của mình làm cho đức tin luôn hoàn hảo .

Như vậy, Đức Maria luôn hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Kitô vì được “đầy ơn phúc” thì cũng “nhờ đức tin”, Đức Maria chia sẻ vào mầu nhiệm này trong tất cả chiều kích của cuộc đời trần thế của Người. Mẹ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, đồng thời một cách âm thầm, Mẹ làm cho mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện nơi con người.

 

2. Mẹ sống là phục vụ, mẹ đi để trao Giêsu.

Việc Đức Maria vội vã ra đi đến Ain Carem khi vừa được báo tin là người chị họ trong lúc tuổi già đã mang thai được sáu tháng, được thôi thúc bởi ba động lực là để chia sẻ niềm vui, trao ban “ân sủng”tinh thần đức ái: Đức Maria đến chia sẻ niềm vui kép đôi vì vừa được cưu mang Chúa Giêsu, vừa vui mừng cho bà Elisabeth được Thiên Chúa cất đi nỗi nhục son sẻ của bà; Đức Maria đến để đem Chúa Giêsu đến cho Gioan được nhảy mừng và bà Elisabeth được tràn đầy Chúa Thánh Thần; và Đức Maria đến để giúp đỡ bà Elisabeth trong thời kỳ thai nghén. Tất cả được gói gọn trong một động lực duy nhất là đức ái tuyệt hảo của Mẹ Con Thiên Chúa.

Đức Maria mang đến cho gia đình bà Elisabeth ân sủng của Thiên Chúa, vì Mẹ tràn ngập ân sủng, nên ân sủng đó trào tràn trên bà Elisabeth làm cho bà cất lớn tiếng và ca ngợi Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria mang trong mình Đấng là ân sủng và được bao quanh bằng ân sủng của Thánh Thần, Mẹ hiểu rõ bản chất của ân sủng không cho phép tích trữ và giữ lấy như của riêng, mà cần phải trao ban, ân sủng không dừng lại nơi Mẹ mà được tặng ban cho con cái loài người. Thật vậy, nếu ân sủng là để phân phát, thì người làm đầu chỉ có thể là để phục vụ (x. Mt 23, 11), và thế giới ân sủng còn là thế giới của tình thương. Tình thương bao la và cao thượng vốn được xây dựng trên hy sinh và dâng hiến. Nơi đó, không chờ đợi để nhận lãnh hay để được phục vụ, mà là luôn tìm cách trao ban, chia sẻ và hiến tặng. Đức Maria đã thực hiện trọn vẹn tinh thần đức ái khi hạ mình làm người tôi tớ phục vụ.

Dù được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ vì đã cưu mang Con Thiên Chúa, cưu mang Đấng Cứu Thế mà cả dân Israel và muôn dân trông đợi, nhưng Đức Maria đã không tự coi mình cao trọng trong phẩm vị “Hoàng Thái Hậu” mà hạ mình để phục vụ, mà người đầu tiên được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến phục vụ là bà Elisabeth. Nếu Đức Giêsu là Chúa và là Thầy mà đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, thì trước đó chính Mẹ Người là Mẹ Thiên Chúa đã hạ mình phục vụ một thụ tạo, và với một công việc rất thấp hèn suốt một thời gian ba tháng theo lời kể của Luca (x. Lc 1, 56).

 

Tóm lại, qua biến cố thăm viếng trong Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta sống tinh thần của Mẹ Maria là sống trong ơn nghĩa của một tâm hồn đầy Chúa, cưu mang Chúa trong trái tim mình, để rồi mau mắn đem Chúa đến cho tha nhân. Đặc biệt cụ thể hoá việc làm chứng cho Chúa qua chính đời sống phục vụ.

 

Lạy Chúa, xin cho chúng con một khi phải chọn lựa dấn thân cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa, thì cũng biết noi gương Mẹ Maria là người diễm phúc vì đã tin tuyệt đối vào Chúa, để niềm vui Ơn Cứu Độ được lan tỏa cho những ai chúng con gặp gỡ. Amen.

 

 

Ngày 24 tháng 12 
Thánh lễ ban sáng

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1,67-79

Bấy giờ, người cha của em, tức là ông Da-ca-ri-a, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng:

"Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en

đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.

Từ dòng dõi trung thần Đa-vít,

Người đã cho xuất hiện

Vị Cứu Tinh quyền thế để giúp ta,

như Người đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ

mà phán hứa tự ngàn xưa:

sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù,

thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét;

sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên

và nhớ lại lời xưa giao ước;

Chúa đã thề với tổ phụ Áp-ra-ham

rằng sẽ giải phóng ta khỏi tay địch thù,

và cho ta chẳng còn sợ hãi,

để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người,

mà phụng thờ Người suốt cả đời ta.

Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu

là ngôn sứ của Đấng Tối Cao:

con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người,

bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ

là tha cho họ hết mọi tội khiên.

Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn,

cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta,

soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối

và trong bóng tử thần,

dẫn ta bước vào đường nẻo bình an".


II. SUY NIỆM

Lời Chúa trong bài Tin Mừng ngày hôm nay là bài ca mang tính ngôn sứ của ông Giacaria, quen gọi là “Bài ca chúc tụng” (Benedictus), được Giáo Hội chọn làm bài thánh ca Tin Mừng trong giờ Kinh Sáng mỗi ngày.

Bài ca Benedictus này xuất phát từ sự kiện sinh ra cách lạ của thánh Gioan Tiền Hô. Việc sinh ra này làm nổi bật lên ý nghĩa: Khi nghi ngờ Lời Thiên Chúa, ông Giacaria đã bị câm, đến lúc ông thực hiện Lời Thiên Chúa hứa đặt tên cho con trẻ là Gioan thì ông lại nói được để chúc tụng Thiên Chúa. Giacaria đã tin theo lý luận của loài người, của khoa học hơn là quyền năng của Chúa. Ông cho rằng ông đã teo tóp, mà bà xã ông cũng đã hết đát, nên Chúa cũng bó tay. Điều này cho thấy, bao lâu con người còn nghi ngờ Lời Thiên Chúa, là bấy lâu tâm hồn con người còn bị đóng băng và không thể ca tụng Thiên Chúa, cũng như không thể thi hành chức vụ “ngôn sứ” là loan báo Ơn Cứu Độ cho người khác.

Đặc biệt, hiện tượng câm rồi lại mở ra của ông Giacaria như là một biểu tượng của việc ngay từ lúc này thời Cựu Ước đã đóng lại và thời Tân Ước mở ra.

Thật vậy, bài thánh ca này cũng được coi là những nhịp cầu cuối cùng của Cựu Ước bắc qua Tân Ước, đóng lại những gì thuộc tiên báo, chuẩn bị, hình bóng… để bắt đầu giai đoạn ứng nghiệm, giai đoạn của một khởi đầu mới. Để rồi, từ nay cách tính lịch sử chọn mốc “Trước Chúa Giáng Sinh” và “Sau Chúa Giáng Sinh”

Có thể nói, cùng với lời kinh của ông Giacaria, chúng ta nhớ lại giai đoạn thời khắc giao thừa của ơn cứu độ, để cùng mang lấy tâm tình của ông, là:

- Nhớ lại quá khứ để tạ ơn Chúa đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.

- Hướng về tương lai để làm chứng nhân cho Người.

 

1. Nhớ lại quá khứ để tạ ơn Chúa.

Lịch Sử Cứu Độ cho thấy Thiên Chúa luôn trung thành và viếng thăm cứu chuộc con người, dù bao lần con người bội phản. Thiên Chúa đã dùng lời ngôn sứ mà loan báo sự xuất hiện của Đấng Cứu Tinh quyền thế, đến để cho con người được sống công chính thánh thiện mà phụng thờ Thiên Chúa.

Trong bài đọc I, sách Samuel quyển 2, qua miệng ngôn sứ Na-than, Thiên Chúa đã hứa với Đa-vít rằng từ dòng dõi vua sẽ kế vị vững bền: “Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi" (2Sm 7,16). Lời sấm ngôn này ban đầu dân Do-thái vẫn hiểu là dành cho triều đại Salômon. Tuy nhiên, từ sau khi vua Salômon chết, đất nước đã bị phân chia thành hai, dần dần lụi tàn để rồi lưu đày và mất nước. Vì thế, từ sau lưu đày, lời ngôn sứ này được hướng về một tương lai xa hơn, và dân Do-thái mòn mỏi mong chờ một Đấng Cứu Thế đến xuất thân từ dòng dõi Đa-vít.

Mở đầu bài ca của ông Giacaria đã xác tín rằng: Đấng thuộc dòng Đa-vít nay đã đến, vì Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người khi trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước…

Cũng vậy, hôm nay, đứng trước biến cố kỷ niệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh, cùng với lời kinh của ông Giacaria, chúng ta ôn lại bao nhiêu hồng ân Chúa ban trong một thời gian đợi chờ của Mùa Vọng. Để rồi ngày mai kỷ niệm Giáng Sinh giúp chúng bắt đầu một khởi đầu mới cho việc làm chứng nhân cho Chúa.

 

2. Hướng về tương lai để làm chứng nhân cho Chúa.

Phần hai của bài ca chúc tụng nói lên sứ vụ của Vị Tiền Hô. Sứ vụ của Vị Tiền Hô là luôn đi trước mặt Chúa, mở lối cho Người, nói về tình thương tha thứ của Chúa, soi sáng cho ai còn ngồi trong bóng tối tử thần và dẫn họ vào nơi bình an.

Điều này đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Gioan Tẩy Giả, khi chính ngài đã rao giảng kêu gọi sự sám hối để dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Đặc biệt, thánh Gioan Tẩy Giả không chỉ ra giảng bằng lời nói mà còn bằng cả cuộc đời chứng nhân sống động của mình.

Để thấy rõ hơn đời sống chứng nhân mẫu mực của thánh Gioan tẩy Giả, chúng ta đọc lại lời của Giêsu trong Tin Mừng Luca 7, 24b-27: "Anh em đi xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Hẳn là không! Thế thì anh em đi xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Nhưng kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung trong điện. Thế thì anh em đi xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết: đây còn hơn cả ngôn sứ nữa! Chính ông là người Thiên Chúa đã nói tới trong Kinh Thánh rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến!”.

Với những lời này, điểm nổi bật hơn cả nơi thánh Gioan Tẩy Giả chính là sự can đảm chứng minh cho sự thật, và đời sống nghèo khó khiêm nhường.

Dựa theo đó, chúng ta cũng có thể tự hỏi:

Thế gian đến với chúng ta để tìm gì? Thấy một "cây sậy” phất phơ trước gió chăng? Người ta sẽ không thể chấp nhận một người mang danh con Chúa mà sống phất phơ, mong manh, hèn nhát và gió bên nào thì ngã theo bên ấy.

Cách riêng đối với các vị đại diện Chúa hay những ai sống đời thánh hiến, mọi người tìm đến để xem gì ? Một vị giàu sang tiện nghi lộng lẫy sống xa hoa trong cung điện ư? Thưa không ! Điều mà người ta chờ đợi nơi các vị là đời sống giản dị khó nghèo theo gương Chúa, chứ không phải đua đòi thời trang và tiện nghi...

Người ta đến với chúng ta là vì chúng ta là chứng nhân: luôn đi trước mặt Chúa, mở lối cho Người, nói về tình thương tha thứ của Chúa, soi sáng cho ai còn ngồi trong bóng tối tử thần và đem lại cho họ sự bình an.

 

Tóm lại, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta khi đứng trước thời khắc giao thừa kỷ niệm ngày Chúa Giêsu Giáng Sinh, cùng với lời kinh của ông Giacaria, chúng ta ôn lại bao nhiêu hồng ân Chúa ban trong quá khứ để tạ ơn Chúa. Để rồi ngày mai kỷ niệm Giáng Sinh giúp chúng bắt đầu một khởi đầu mới cho việc làm chứng nhân cho Chúa. 

 

Lạy Chúa Giê-su, miệng lưỡi chúng con như bị câm và không thể ca tụng Chúa vì chúng con còn nghi ngờ quyền năng của Chúa, niềm tin của chúng con chưa đủ lớn vì còn dựa theo tính thựng nghiệm của khoa học. Xin Chúa đến thánh hóa môi miệng chúng con và ban ơn đức tin cho chúng con, để chúng con tuyên xưng và cao rao danh Chúa cho mọi người. Amen.

 

 

ĐẠI LỄ CHÚA GIÁNG SINH 

(lễ đêm)

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 2,1-14

Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

 

II. SUY NIỆM

“TÌNH YÊU CỨU ĐỘ”

Đọc bài Tin Mừng thánh lễ Đêm Giáng Sinh hôm nay, tôi chợt nhớ đến hình ảnh ngày 13 tháng 6  hằng năm tại đền thánh An-tôn Trại Gáo (Giáo phận Vinh). Dịp lễ này, khắp nơi đổ về dự lễ có khi lên đến cả mấy chục ngàn người. Ai đến sớm vào 2 ngày trước  thì còn tìm được một chỗ kha khá, ít ra là có thể tìm được chỗ qua đêm trên nền gạch trong sân đền thờ; còn những người đến sau thì phải tìm chỗ rất xa tận trên sườn núi, hay ngoài cách đồng. Đã về nơi đây dự lễ thì phải chấp nhận mọi thiếu thốn, đặc biệt khi phải tìm chỗ ngủ ở sườn núi hay ngoài đồng, không mùng mền hay điện nước, nhưng ai cũng như ai chỉ có mảnh bạt hay tấm áo mưa mang theo trải lên sỏi đá. Dân cư xung quanh đền thánh An-tôn không có nhiều các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của khách, nên giàu hay nghèo cũng như nhau, nhưng ai nấy đều vui vẻ hòa chung với nhau trong một niềm vui tạ ơn Chúa qua lời chuyển cầu của thánh An-tôn.

 

Trở lại với bối cảnh thành Bê-lem xưa trong dịp kiểm tra dân số, có lẽ cũng vì không đủ chỗ trọ tốt vì lượng người đổ về đây quá nhiều, nên thánh Giuse và Mẹ Maria đành tìm chỗ trú qua đêm nơi một chuồng bò hay một hang đá cô quạnh chăng, nhất là khi Mẹ Maria đã đến ngày sinh nở ?

 

Có một điều chắc chắn là Con Thiên Chúa đã chọn sinh ra nơi tột cùng của sự nghèo hèn thiếu thốn. Con Thiên Chúa đi vào đời, sinh vào một quốc gia và một thể chế Tôn Giáo, nhất là đất nước và tôn giáo đóng vai trò khởi đầu ơn cứu độ, thì đương nhiên nhập gia tuỳ tục. Chúa Giêsu nhập thể và nhập thể cách trọn vẹn khi Ngài mang lấy một thân phận con người, sinh ra nơi một gia đình, giữ mọi tập tục lễ nghi.

 

Khắp nơi trên thế giới ngày hôm nay, những người ngoài Ki-tô giáo cũng chia sẻ niềm vui Giáng Sinh, người thì nhân cơ hội kết nối tình thân hữu qua cánh thiệp, món quà hay lời cầu chúc, kẻ thì dùng dịp Giáng Sinh như một thời cơ phát triển thương mại, người khác chỉ đơn giản vui giáng sinh vì hình ảnh một em bé dễ thương mỉm cười nằm trong những mang cỏ được trang trí đèn nến lung linh…

Nhưng ít ai hiểu được ý nghĩa căn cốt của việc Con Thiên Chúa đi vào trần gian trong sự tận cùng của sự khó nghèo và hèn kém nhất của xã hội. Để lý giải cho vấn đề này, chúng ta cùng tập chú suy niệm qua hai ý sau đây:

 

1.  Ý nghĩa tình yêu cứu độ.

Nhiều người vẫn thắc mắc rằng, nếu Thiên Chúa quyền năng thì chỉ cần ở chốn trời cao phán xuống một lời thì cứu độ được thế gian, cần gì phải chọn cách nhập thể vào nơi tục lụy và gánh lấy kiếp khổ đau như vậy…?

Với lối trả lời theo thần học có lẽ cao siêu quá nên nhiều người khó chấp nhận, vì thần học trả lời rằng: “Chúa Giêsu chọn phương cách nhập thể là vì muốn cho con người biết rằng, con người có một giá trị rất cao quý mà Ngài không ngại mặc lấy thân xác con người, và cũng qua sự nhập thể Ngài nâng phẩm giá con người lên”. Chúng ta có thể đưa ra một lối giải thích bình dân qua ví dụ minh họa như sau: Cũng như một chàng trai muốn tìm kiếm bạn đời, mà cứ ở một chỗ, không đến nhà cô gái, không tìm gặp nàng, không trao đổi tìm hiểu nàng, mà cứ ở nhà gọi điện thoại, gửi tin nhắn, thư điện tử… để tỏ tình, thì làm sao cô gái kia nhận lời được. Hơn nữa, phần lớn người Việt Nam còn có tục phải đi làm rể, thì mới có cơ hội cưới được nửa kia của đời mình. Chúa Giêsu cũng thế, nếu Ngài cứ ở trên trời nói vọng xuống: “Ta yêu các con, Ta sẵn sàng chết vì các con…” thì làm sao con người kiểm chứng được tình yêu đó và đáp lại được. Vì thế, Chúa Giêsu phải xuống với con người, cùng chấp nhận kiếp sống, cùng đồng hành chia sẻ và sẵn sàng hy sinh để cứu con người là đối tượng mà Ngài yêu.

 

2. Cảm thông với thân phận yếu hèn của con người.

Có thể nói sẽ rất khập khễnh trong tình yêu giữa Thiên Chúa và thụ tạo nếu Thiên Chúa giữ vai vế của Thiên Chúa để yêu, nên Người đã hạ cố xuống ngang hàng với con người mới có thể cảm thông và chia sẻ được.

Có câu chuyện kể rằng: “Một ngày kia thái tử Suseig đi dạo qua cánh đồng của Mada, tình cờ trên đường đi thái tử và đoàn tùy tùng gặp một cô thôn nữ đang gánh lúa về qua con đê đầu làng. Thái tử nhìn theo không chợp mắt và lòng thấy xôn xao khó tả… Về nhà thái tử ra ngẩn vào ngơ, nhiều đêm không ngủ và nhiều lần muốn xin vua cha để đi gặp cô thôn nữ ngày nào. Thấy diện mạo của thái tử mỗi ngày một khác đi, vua Erèp lo lắng và triều đình cũng xôn xao lo cho sức khỏe của Suseig. Vua Erèp liền triệu tập các quan từng tháp tùng thái tử đi dạo và hỏi han mới hiểu sự việc xảy ra như thế, vua biết Suseig không có bệnh gì mà chỉ là “đang yêu” mà thôi. Vua ngỡ ngàng không hiểu tại sao trong triều đình có nhiều công nương xinh đẹp thì thái tử không yêu, lại để lòng thương nhớ một cô thôn nữ xa xôi, quê mùa và chỉ xứng với hàng nô lệ. Nhưng vì là Quý Tử nên vua vẫn chiều lòng Suseig và hy vọng qua cuộc hôn nhân này, sẽ hàn gắn được những rạn nứt trước đây, vua sẽ nhân cơ hội ấy mà tha bổng tội bất trung cho gia đình Nada, đồng thời xóa bỏ lệnh cấm vận và mở cửa ngoại giao với họ.

Được vua ban lệnh, thái tử Suseig hồi hộp chuẩn bị lên đường, nhưng một vị tướng cao niên đã hỏi thái tử:

Thưa điện hạ! Có chắc là cô gái đó sẽ nhận lời cầu hôn của điện hạ không?

- Ta chắc là như vậy.

Nhưng nếu điện hạ đi với tư cách là một thái tử đầy quyền lực oai phong, thì cô gái đó chấp nhận kết hôn chỉ vì sợ hoặc vì ham giàu sang danh vọng?

- Vậy thì ta sẽ cắm lều ở trong làng với nàng, ta sẽ cùng lao động khổ cực, chia sẻ những vất vả như một người hàng xóm thực thụ để dần dần chinh phục trái tim nàng.

Nhưng thưa điện hạ! Lỡ nàng đã có người yêu và kẻ tình nhân sẽ giết điện hạ thì sao?

- Không sao cả, nếu có rủi ro như vậy, lúc ta ngã xuống mà được nghe nàng thốt lên “I love you!” thì ta đã mãn nguyện rồi.

… Và thái tử Suseig đã đến, đã yêu và từng bị ngã xuống, đã được yêu, đã cưới được cô dâu về cho vua cha”.

 

Thiết nghĩ, nếu Chúa Giê-su đến trần gian trong tư cách một ông hoàng, hay sinh hạ vào nơi cung triều hoa lệ, thì Người có thể cảm thông được kiếp dân đen nghèo hèn tội lỗi không?

Vâng, chính vì thế mà Con Thiên Chúa đã đi vào trần gian trong thân phận nghèo hèn thiếu thốn, để cứu chuộc con người và làm cho cuộc đời mang một ý nghĩa mới trong Ơn Cứu Chuộc của Người.

 

Lạy Chúa Giê-su, đêm nay, đêm thánh vô cùng, đêm mà Chúa đã giáng sinh vào nơi nghèo hèn tội lỗi để thánh hóa kiếp lầm than của nhân loại thàng thánh, thành vương quốc Nước Trời, thành dân thánh và mọi người trở nên người nhà và là an hem với Chúa. Xin cho chúng con cũng biết sống tinh thần nhập thế như Chúa, là hòa mình vào mọi kiếp đời bất hạnh, hầu giúp mọi người có được phẩm giá xứng đáng, và đặc biệt hơn nữa là trở thành con cái Chúa. Amen.

 

 

ĐẠI LỄ GIÁNG SINH

(Lễ ban ngày)

 

I. ĐỌC TIN MỪNG; Ga 1,1-18

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.

Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,

và Ngôi Lời là Thiên Chúa.

Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.

Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,

và không có Người,

thì chẳng có gì được tạo thành.

Điều đã được tạo thành

ở nơi Người là sự sống,

và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.

Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,

và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.

Có một người được Thiên Chúa sai đến,

tên là Gio-an.

Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,

để mọi người nhờ ông mà tin.

Ông không phải là ánh sáng,

nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.

Ngôi Lời là ánh sáng thật,

ánh sáng đến thế gian

và chiếu soi mọi người.

Người ở giữa thế gian,

và thế gian đã nhờ Người mà có,

nhưng lại không nhận biết Người.

Người đã đến nhà mình,

nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.

Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,

thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.

Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,

cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,

hoặc do ước muốn của người đàn ông,

nhưng do bởi Thiên Chúa.

Ngôi Lời đã trở nên người phàm

và cư ngụ giữa chúng ta.

Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,

vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,

là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.

Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố:

"Đây là Đấng mà tôi đã nói:

Người đến sau tôi,

nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi."

Từ nguồn sung mãn của Người,

tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.

Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê,

còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có.

Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả;

nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa

và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,

chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

 

II. SUY NIỆM

“NGƯỜI ĐÃ ĐẾN NHÀ MÌNH

NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC ĐÓN NHẬN”

Thời Phong Kiến xưa, có những vị minh quân ngoài việc thiết triều bàn nghị việc nước, điều khiển việc quốc gia đại sự, có vị bởi muốn hiểu nhân tình thế thái thế nào nên vi hành vào chốn nhân gian. Các vị cải trang thành một anh học trò nghèo đem một vài võ vệ bí mật đi theo để đi vào những nơi dân tình khốn khổ, nhằm biết đời sống của dân và lòng dân thế nào (chẳng hạn vua Lê Thánh Tông – Nước Việt 1460 - 1497, và một số vị vua đời nhà Tống – Trung Quốc). Thường thì không ai nhận ra vua và thậm chí có vị còn bị các quan xã bắt giam mỗi khi lên tiếng chống lại sự bất công của dân mình trước sự nhũng nhiễu của cường hào.

Câu chuyện vi hành của các minh quân trên cho ta hai ý để suy niệm về Tin Mừng lễ Giáng Sinh hôm nay:

Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 14).

Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,14)

 

1. Ngôi Lời đã hóa nên xác phàm.

Để đi đến với thần dân, các vị minh quân phải hóa trang thành một người bình thường mới có thể trà trộn vào trong dân để hiểu biết và đồng cảm được với cảnh sống của dân. Con Thiên Chúa từ trời cao muốn đi vào trần gian để đồng cảm và giải thoát dân khỏi áp bức bạo tàn, khỏi nô lệ cho ma quỷ và tội lỗi, thì Người phải hạ thân mặc lấy xác phàm. Muốn Nhập Thế thì Chúa phải Nhập Thể, đó là ý nghĩa đầu tiên của việc Con Thiên Chúa Giáng Sinh làm người.

Nhờ đó «Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa» (Ga 1,12. Thật vậy, Chúa làm người để con người được thông phần vào bản tính thần linh của Chúa mà chiêm ngưỡng vinh quang Người (x. 2Pr 1,4). Thánh Irene giải thích: “Con Thiên Chúa trở thành con cái loài người, để con cái loài người được trở nên con Thiên Chúa”. Còn thánh giáo phụ Clémẹnt (Alexandrie) và Grégoire (Naziance) lại quả quyết mạnh hơn: “Thiên Chúa đã làm người để con người làm chúa”. Khi nói đến quyền làm chúa của con người, các giáo phụ xác quyết lại tình trạng con người khi phạm tội nguyên tổ đã mất«quyền làm con»  «quyền làm chủ», trở nên «nô lệ» cho ma quỷ, xác thịt và tội lỗi (Domini: Chúa, domini: ông chủ). Thì đây, khi Đấng Cứu Độ đến là ban lại «quyền làm con Thiên Chúa», và giải phóng con người khỏi «nô lệ» ma quỷ, đặc biệt là «làm chủ» trên ma quỷ, thế gian và tội lỗi. Không những thế, từ nay con người còn trở nên nghĩa tử và đồng thừa tự với Đức Kitô.

 

2. Người nhà không đón nhận.

Không nhận ra vua là vì ai cũng chung một quan niệm vua thì oai phong lẫm liệt khoác vương bào ngồi trên kiệu có quan quân tiền hô hậu ủng. Vua thì không thể nào là khố rách áo ôm không nhà không cửa… Đó cũng là quan niệm chung của người đương thời với Chúa Giêsu. Họ quan niệm Đấng Cứu Thế đến phải là rất quyền lực và oai phong như Vua Đa-vít đến đánh dẹp Rôma và lên ngôi hoàng đế, nên không chấp nhận một Đấng Cứu Thế khiêm nhường hiền hậu như Đức Giêsu được.

Chính vì thế mà như Tin Mừng Gioan viết: Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,14).

Không đón nhận là vì ai cũng đang tìm kiếm một Đấng giàu sang vinh hiển quyền năng, chứ làm sao chấp nhận được một Hài Nhi chào đời trong một hoàn cảnh nghèo đến mức không thể nghèo hơn được nữa. Đến nỗi dấu để nhận ra Ngài không phải trên xa giá kim long mà là «Hài Nhi nằm trong máng cỏ».

Không đón nhận là vì ngày hôm nay, chính chúng ta đang tiếp tục vẽ ra một vị Thiên Chúa làm sao cho hợp với đam mê của mình, chúng ta ham quyền lực nên tôn thờ một kiểu Thiên Chúa uy quyền đánh phạt, chúng ta ưa danh vọng, nên vẽ ra Thiên Chúa giàu sang quyền quý…

Không đón nhận là vì chúng ta muốn một Thiên Chúa sinh ra theo ý mình, đồng nghĩa với việc chúng ta giết chết một Thiên Chúa đích thực, là một Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa chịu đóng đinh và là Thiên Chúa của người nghèo.

 

Hệ quả là cũng như những người Do Thái xưa, chúng ta quan niệm những vị đại diện Chúa sai đến, phải là oai phong hơn người, và chúng ta dành cho các vị một khoảng cách rất xa so với những người thân cận đang cần đến chúng ta giúp đỡ.

Đáng trách hơn là không thiếu những người “được coi là đại diện Chúa”, như «các đấng các bậc» đã tự trang bị cho mình một sự vượt trội người khác, thay vì nổi trội về lòng mến và kiến thức về Chúa, thì lại lo sắm sửa cho mình những tiện nghi sang trọng, để được mọi người kính nể, và tự phân cấp thành một bậc cao hơn trên dân Chúa, không thể đến với người nghèo và hạ mình cúi xuống phục vụ những người đau khổ. Như thế, chẳng khác nào chúng ta đang tôn thờ một Thiên Chúa ‘thần tài’ và giết chết Thiên Chúa là Đấng đã chết đi vì những người hèn kém nhất trong xã hội.

 

Tóm lại, Mừng biến cố Chúa Giáng Sinh để khởi đầu một kỷ nguyên mới của bình an và hạnh phúc, thì cũng muốn mỗi người chúng ta một khởi đầu mới là dành cho Chúa một nơi ở trong trái tim mình, dành cho Chúa một chỗ trong đời sống mình để Giáng Sinh. Đồng thời loại bỏ những gì biến dịp giáng sinh thành dịp để ăn chơi, hưởng thụ khoái lạc, kinh doanh buôn bán, chạy theo các giá trị phù du...

 

… 

Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, bởi vì chúng con được ví như “người nhà” của Chúa, nhưng nhiều lần Chúa đến viếng thăm tâm hồn chúng con thì chúng con lại từ chối vì không nhận ra Chúa, bởi tâm trí chúng con quen với tư tương một Thiên Chúa quyền lực thỏa mãn đam mê của chúng con hơn là một Thiên Chúa Tình Yêu. Amen.

 

 

Ngày 26 tháng 12

NGÀY HAI TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH

Lễ kính thánh Stephano Tử đạo tiên khởi

 

I.  ĐỌC TIN MỪNG: Mt 10,17-22

"Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết. Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.

"Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

 

II. SUY NIỆM

Liền sau việc kính nhớ ngày Con Thiên Chúa giáng sinh vào trần thế, Giáo Hội mừng một người con ưu tú – vị tử đạo đầu tiên đi vào cõi trời vinh hiển – là thánh Stephano.

Thánh Stephano là một trong 7 vị phó tế đầu tiên của Giáo Hội do chính các Tông Đồ tuyển chọn và đặt tay ban Thánh Thần. Với cái chết oai hùng của thánh Stephano, đã làm ứng nghiệm, đã sống và chết theo Lời Thầy Chí Thánh đã tiên báo trong bài Tin Mừng hôm nay.

 

Chúa Giêsu đã tiên báo về sự bách hại mà các tông đồ và những ai bước theo Chúa sẽ phải chịu, nhưng trong mọi thử thách bách hại luôn có Chúa đồng hành để ban Thánh Thần soi sáng và sức mạnh để làm cho các chứng nhân nên kiên vững và làm chứng cho Người.

 

1. Chịu bách hại vì mang danh Chúa.

Chúa Giêsu tiên báo điều này đã ứng nghiệm từng câu chữ trong những thời kỳ bách hại. Biết bao người mang danh Kitô hữu đã phải chịu bắt bớ, ngược đãi, loại bỏ, tù đày, tra tấn và bị giết chết để làm chứng cho Chúa Kitô.

Ngày nay, sự bách hại vẫn diễn ra, nhưng mang tính tinh vi và trường kỳ. Vì danh Chúa, người môn đệ phải đối diện với những thử thách do nội tâm, do xác thịt, do cuộc sống và do xã hội gây nên.

Để được vinh thân phì gia và được ca tụng, không ít người Công Giáo đã không ngại “chối Chúa” là từ bỏ lề luật, bỏ đạo để bán mình cho “tà thần”(…). Nhẹ hơn, không ít người giấu diếm để khỏi người khác biết mình là người Công Giáo vì sợ bị chê cười hoặc bị kỳ thị trong công việc… Còn những ai dám sống thật và dám làm chứng cho Chúa và cho sự thật thì cái giá họ phải trả là chịu bách hại đủ đường từ chính thể chế chúng ta đang sống cũng như mất đi những cơ hội tiến thân…

Là Kitô hữu, chúng ta vẫn thích một sự dễ dãi hơn là những hy sinh sớm tối. Gặp khó khăn chúng ta không dám đối diện với sự thật mà tìm cách né tránh; gặp đau khổ thì dễ than trách hơn là nhẫn nhục lập công phúc trước mặt Chúa.

 

2. Ơn soi sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu khích lệ: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, và phải nói gì, vì ngay trong giờ đó Thánh Thần sẽ dạy cho anh cho anh em biết những điều phải nói”.

Chúa Thánh Thần hướng dẫn con người đi tìm chân lý, đi tìm sự thật. Qua mọi thời và mọi nơi, Chúa Thánh Thần an ủi và nâng đỡ Giáo Hội và các Kitô hữu can đảm tuyên xưng đức tin. 

Thật vậy, trong hành trình sống đạo, chúng ta có Thiên Chúa luôn quan phòng đồng hành qua bảy ân sủng của Chúa Thánh Thần, nhất là sự khôn ngoan, hiểu biết và mạnh bạo để làm chứng cho Chúa. Tình thương Thiên Chúa luôn quan tâm săn sóc con người  bao bọc và bảo vệ con người, nên hãy luôn tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. 

 

Lạy Chúa Giêsu, giữa cuộc đời này, chúng con luôn bị giằng co giữa tin hay không tin, chọn Chúa hay chọn thế gian, chọn hy sinh từ bỏ hay thoả hiệp tình cảm, thú vui, danh vọng và quyền lực. Xin cho chúng con, một khi đã tin vào Chúa, phải sẵn sàng vượt lên và thậm chí trên cả tình cảm gia đình ruột thịt để dứt khóat chọn Chúa, bước theo và làm chứng nhân cho Ngài. Amen.

 

 

Ngày 27 tháng 12 

NGÀY BA TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH

Lễ kính thánh Gioan Tông Đồ

 

I. BÀI TIN MỪNG: Ga 20,2-8

Buổi sáng ngày phục sinh, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ.2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.

 

II. SUY NIỆM

Trong Tin Mừng thứ tư dưới tên gọi Gioan, chúng ta luôn gặp những từ ngữ biểu tượng. Có thể nói, Tin Mừng này được coi là khó giải thích nhất, lời lẽ cao siêu và kín ẩn nhất. Bản văn Tin Mừng vừa được coi là của thánh Gioan viết, nhưng cũng vừa là của nhóm Gioan, hay“trường phái Gioan” hoặc “văn chương Gioan”.
Cũng như trong sách Sáng Thế, khởi đầu của cuộc sáng tạo, tên của ông A-đam vừa là tên gọi, nhưng cũng có ý nghĩa là “người” nói lên cả nhân loại. 

Trong Tin Mừng Gioan, sự kiện Phục Sinh được nhìn như một cuộc “Tân Sáng Tạo”, mà tất cả những ai thuộc về cuộc Tân Sáng Tạo, nghĩa là được cứu chuộc này, được gọi là ‘môn đệ được Chúa yêu”.
Khi Tin Mừng Gioan dùng chữ “người môn đệ được Chúa yêu”, có thể để chỉ chính thánh Gioan, mà cũng có thể để nói về những người con của Hội Thánh.

Chúng ta gặp từ “môn đệ được Chúa Giêsu yêu” ít nhất 4 lần trong những biến cố rất quan trọng:

 

1. Đêm Tiệc Ly – “Tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu” (x.Ga 13,23-25).

Hình ảnh tựa đầu vào ngực là hành động tình yêu của một cô gái nép vào ngực của bạn trai, cả hai cảm nhận tình yêu dành cho nhau, lắng nghe được sự rung cảm của hai con tim con tim và hơi thở… 
Cũng thể, dưới ngòi bút của “Văn chương Gioan”, Giáo Hội được ví như Hiền Thê đang nép mình vào lòng Chúa Giêsu là Đức Lang Quân.

Như thế, với ngôn ngữ biểu tượng, hình ảnh Gioan tự đầu vào ngực Chúa trong lúc tâm hồn Chúa thổn thức và xao xuyến về sự phản bội của Giuđa, như là Giáo Hội hôm nay đang nép mình bên lòng Chúa vừa để cảm nhận tình yêu của Chúa, vừa để đền tạ sự bội nghĩa vong ân của con người.

 

2. Dưới chân thánh giá – “Đón nhận lời trăng trối” (x. Ga 19,26-2).

Hình ảnh “Người môn đệ được Chúa yêu” đón nhận lời trăng trối của Chúa Giêsu, là đón nhận Mẹ Maria về nhà. Đây là một hình ảnh mà hầu hết các nhà chú giải coi đây là việc Chúa Giêsu trao cho Giáo Hội mẹ Maria.

Một số anh em Tin Lành bấy lâu nay vẫn cho rằng, sau khi sinh Chúa Giêsu, Đức Mẹ còn sinh thêm nhưng người con nữa, nên không còn đồng trinh. Họ đã dựa vào những bản văn nói về anh em của Chúa mà không chịu coi đó là anh em họ. Thì đây, xin hỏi người Tin Lành rằng, nếu Đức Mẹ còn những người con khác, thì với một chàng thanh niên với một phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi, liệu các đứa em của Chúa có chịu để cho Gioan đưa mẹ mình về nhà không?
Ở đây, chúng ta không nhằm để tranh cãi, nhưng điều quan trọng là chúng ta lại một lần nữa gặp thấy ngôn ngữ biểu tượng “người môn đệ được Chúa yêu” là hình ảnh của Giáo Hội, đón nhận Đức Maria làm mẹ và làm Đấng bảo trợ.

 

3. Ngôi mộ trống – “ông đã thấy và đã tin” (x. Ga 20,8).

Đây là sự kiện mà bài Tin Mừng hôm nay mô tả, “người môn đệ được Chúa yêu” chạy ra mộ, thấy ngôi mộ trống và đã tin.

Nhiều người chú giải rằng, Gioan nhường Phêrô vào mộ trước là vì ông nhận quyền “bề trên” của Phêrô. Giải thích như thế có lẽ không chính xác lắm, bởi lẽ, lúc này Chúa Giêsu chưa trao quyền cho Phêrô, mà phải chờ lúc hiện ra sau này với các môn đệ (x. Ga 21,15-19). 

Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây không phải chuyện ai trước ai sau, mà là nền tảng đức tin của chúng ta, như “môn đệ được Chúa yêu đã thấy và ĐÃ TIN”. Sự kiện “Ngôi Mộ Trống” đều được cả 4 Tin Mừng kể lại, đặc biệt thánh Matthêu đã vạch mặt sự lừa đảo của “chính quyền Do Thái” đã cho lính canh tiền để họ nói dối rằng: “Đang đêm khi chúng tôi ngủ, môn đệ đã đến lấy trộm xác” (x.Mt 28,11-15). Câu hỏi được đặt ra là: “tại sao lính canh mà lại ngủ? ngủ thì làm sao biết được các môn đệ trộm xác để mà nói? Ăn trộm mà lại lo cuốn các băng vải và khăn xếp ngăn nắp…?” nhất là luật thời đó, lính canh mà ngủ thì bị xử tử hết (x.Cv 12,19). 

Như vậy, chủ đích của đoạn Tin Mừng hôm nay, trong ngôn ngữ biểu tượng, “người môn đệ Chúa yêu” là hình ảnh Giáo Hội chứng kiến sự kiện ngôi mộ trống, chứng kiến những chứng tích và ĐÃ TIN. Đó là đức Tin muôn đời không lay chuyển của kitô hữu chúng ta.

 

4. Lập “Giáo Hoàng” – (x Ga 21,15-21…).

Khác với các Tin Mừng Nhất Lãm, Tin Mừng thứ tư kể chuyện thiết lập quyền bính cho Phêrô không phải bởi các lần tuyên xưng Đức Tin trước phục Sinh, mà là việc mời gọi thánh Phêrô tuyên xưng lòng mến sau Phục Sinh (trong cuộc Tân Sáng Tạo). Lúc này, dưới sự chứng kiến của “người môn đệ được Chúa yêu”. Ở đây một lần nữa chúng ta gặp lại hình ảnh của một Giáo Hội tin tưởng và phục tùng quyền bính chăn dắt của các Đấng kế vị thánh Phêrô.


Tóm lại:

Qua Bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần ý thức mỗi một kitô hữu chúng ta là “người môn đệ được Chúa yêu”. 

Để rồi hãy biết đến nép mình bên lòng Chúa để cảm nhận tình yêu và phạt tạ Người.

Đón nhận mẹ Maria làm mẹ để được mẹ che chở ủi an.

Nhìn thấy Chúa qua các bí tích và tin tưởng tuyệt đối vào Đấng Phục Sinh.

Chân nhận, tin tưởng và phục tùng các đấng bản quyền mà Chúa đã đặt lên chăn dắt chúng ta.

 

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con đang sống giữa thế sự phong trần, với bao vui buồn của cuộc sống, cũng biết đến với Chúa, như thánh Gio-an đã tựa đầu vào ngực Ngài, để chúng con cùng cảm nhận được nhịp đập của trái tim yêu thương của Chúa dành cho chúng con, hầu chúng xứng đáng là “những người được Chúa yêu”, và biết yêu như Chúa đã yêu. Amen

 

 

Ngày 28 tháng 12 

NGÀY THỨ TƯ TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH.

Lễ các thánh Anh Hài

 

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Mt 2,13-18

Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! " Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.

Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: "Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.

 

II. SUY NIỆM

Linh mục Ngô Phúc Hậu có bài thơ dí dỏm:

“Cái nồi và cái ghế

Cái ghế và cái nồi

Cả đạo lẫn đời

Đều có cái nồi và cái ghế”

 

Có thể nói, việc đam mê cái ghế quyền lực không chỉ là chuyện của thời nào, mà là có từ khi có thế giới loài người và sẽ tồn tại cho đến tận thế. Người ta tìm mọi cách và mọi thủ đoạn để đoạt được cái ghế quyền lực, và khi đã đoạt được thì người ta cũng tìm cách bảo vệ nó bằng bất cứ giá nào. Việc này vẫn đã và đang xảy ra trong xã hội chúng ta, từ cấp nhà nước đến làng xã, len lỏi cả vào trong Giáo Hội, thậm chỉ ảnh hưởng cả vào trong các tu viện khi không thiếu những người tìm mưu tính kế hạ bệ người khác để mình được thăng lên.

 

Hôm nay, bài Tin Mừng tường thuật việc các thánh Anh Hài bị giết bởi bàn tay bạo quyền của Hêrôđê, âu cũng vì ông lo sợ cái ghế của ông bị lung lay.

Mang danh là Hêrôđê Cả và được Rôma cho cai trị một số vùng miền Bắc Palestin, với cái tính hèn nhát, vua nhìn đâu cũng thấy nguy cơ phản bội, đến nỗi ông không ngại giết chết 3 đứa con trai ruột vì sợ nó tiếm ngôi. Hôm nay, vua ra tay tàn sát các hài nhi ở Bêlem và vùng phụ cận, “giết lầm hơn bỏ sót” với hy vọng Hài Nhi Giêsu sẽ bị giết trong số các hài nhi.

 

Dưới ngòi bút của thánh ký Matthêu, chúng ta gặp thấy một lần nữa, thánh nhân tài tình lồng ghép một hình ảnh Cựu Ước để làm nổi bật vai trò của nhân vật trong tân ước mà Tin Mừng đang nói tới: Một hình ảnh Giuse trong cựu ước tiên trưng cho thánh Giuse – người công chính; Abraham và Giacaria đều nhận lời hứa sinh con trong lúc tuổi già… Thì hôm nay, phảng phất hình ảnh của Môsê hiện ra trong tường thuật về biến cố Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập.

Trong sách Xuất Hành, kể chuyện vua Pharaô sợ con cái Israel thêm đông số sẽ phản bội nên đã ra lệnh giết các bé trai sơ sinh, nhưng nhờ sự khôn khéo của người mẹ, Môsê đã được sống sót và trở thành vị cứu tinh của Israel khi đưa dân ra khỏi đất Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ và vào miền Đất Hứa (x.Xh 1,8-10)

Hôm nay, Hêrôđê chỉ vì sợ Hài Nhi Giêsu lớn lên sẽ chiếm mất ngôi nên đã ra tay sát hại các hài nhi ở Bêlem, nhưng Hài Nhi Giêsu đã thoát chết nhờ thánh Giuse và mẹ Maria đang đêm đã bồng chạy qua Ai Cập, để rồi sau này, chính Hài Nhi Giêsu đã trở nên Đấng Cứu Tinh, giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi, tiến vào quê trời.

 

Đáng tiếc cho Hêrôđê là ông không biết Hài Nhi Giêsu đâu màng gì ngai báu trần gian, hơn nữa tất cả đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa:

Qua biến cố này, càng cho thấy Đức Giêsu đã sống mầu nhiệm Nhập Thể cách trọn vẹn, tự huỷ mình ra không (kénosis), đến mức như một đứa trẻ không có khả năng tự vệ. Đồng thời, Người đã phải sống kiếp lưu vong và nô lệ của dân Do Thái xưa nơi đất khách quê người Ai Cập, để cảm thông và giải phóng con người.

 

Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy chúng ta:

- Tập sống khiêm tốn tự hạ, chứ đừng vì cái chức cái quyền hay quyền lợi mà bày mưu kế hãm hại tha nhân. 

- Sống mầu nhiện nhập thể của Chúa Giêsu Kitô cách trọn vẹn, khi chấp nhận mang lấy kiếp sống của con người hôm nay, để qua chúng ta, ơn cứu độ của Chúa đến với mọi người.

 

Lạy Chúa, ngày nay bao trẻ em vô tội vẫn đang tiếp tục bị giết bởi thiếu dinh dưỡng, bởi không được bảo vệ, và đặc biệt do chính những người cha người mẹ chỉ vì danh dự hoặc khó khăn mà tàn độc giết chính con mình ngay từ trong bào thai. Xin Chúa khơi dậy lên ý thức và lương tâm mọi người, để họ biết tôn trọng sự sống là ân huệ cao quý nhất mà Chúa ban cho con người. Amen.

 

 

Ngày 29 tháng 12 

NGÀY V TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH

 

I. BÀI TIN MỪNG: Lc 2,22-35

Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa", và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

"Muôn lạy Chúa, giờ đây

theo lời Ngài đã hứa,

xin để tôi tớ này được an bình ra đi.

Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ

Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:

Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,

là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài."

Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người. Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà."

 

II. SUY NIỆM

Sự kiện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và thánh tẩy Đức Trinh Nữ đã được thánh sử Luca ghi lại (Lc 2,22-39). Sự kiện này nhằm thực hiện những lề luật đã được ghi rõ trong sách Lê-vi Lv 12,8 và Xuất Hành 13,2. Trung tín với lề luật, Mẹ Maria và thánh Giuse đã đem hài nhi lên Giêrusalem tiến dâng cho Thiên Chúa Cha. Trong biến cố trọng đại này, làm nổi bật lên hai đặc điểm sau đây:

- Chu toàn lề luật.

- Cộng tác trong chương trình cứu độ.

 

1. Chu toàn lề luật.

Biến cố Mẹ và thánh Giuse đem Đức Giêsu vào đền thánh để dâng cho Thiên Chúa được Tin Mừng Luca lồng ghép hai nghi thức thánh tẩy cho Mẹ sau khi sinh và dâng Đức Giêsu (Con đầu lòng) cho Thiên Chúa thành một. Có người cho rằng đây là một cách Luca dùng để ngầm ý làm nổi bật sự kết hợp giữa Đức Giêsu và Mẹ Người trong việc tiến dâng cho Thiên Chúa Cha. Luca muốn diễn tả biến cố này là một sự thánh tẩy đền thờ hơn là Mẹ được thanh tẩy. Thật vậy, cách trích dẫn Cựu Ước ở đây, cho thấy Luca chú ý đến tính thần học hơn là về phương diện lịch sử.

Có lẽ thánh ký Luca không quan tâm lắm đến việc Mẹ cần tẩy uế, vì Người không thể bị ô uế khi sinh ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh và thanh sạch, cũng như Mẹ là Đấng thanh sạch vì được tràn đầy ân sủng, nên lễ thanh tẩy ở đây có lẽ Luca muốn ám chỉ đền thờ Giêrusalem. Vì từ khi Hòm Bia bị mất (vào 587), đền thờ đã trở nên trống rỗng và xem như Thiên Chúa không còn hiện diện nữa. Nay Đức Giêsu Cứu Thế đến, đền thờ lại được tràn đầy, Thiên Chúa lại hiện diện, và như thế, đền thờ được tẩy uế.

Cách kể chuyện của Luca còn cho thấy việc dâng Chúa Giêsu trong đến thánh như là một cuộc gặp gỡ giữa Cựu Ước và Tân Ước (giữa Simêon và Anna đại diện cho Cựu ước với Đức Giêsu là Đấng khai mở Tân Ước). Trong khi Matthêu cố minh chứng Đức Giêsu chính là Môisê mới, thì có vẻ như Luca lại thích áp dụng Đức Giêsu như là vị ngôn sứ Samuel mới. Thực ra Luca thấm nhuần hình ảnh của Samuel từ bài ca của bà mẹ hiếm muộn Anna, cho đến việc Samuel được bà Anna dâng vào đền thờ để phục vụ Thiên Chúa (x. 1Sm 1, 22-28); còn “cha mẹ Đức Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người” (Lc 2, 27). Điều này cho thấy Giuse và Maria tuân giữ lề luật rất kỹ càng, làm cho việc “sống dưới lề luật” của Đức Giêsu càng nổi bật.

 

2. Cộng tác trong chương trình cứu độ.

Lời tiên báo của ông Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn hồn Bà” (Lc 2, 35) là một mặc khải về viễn tương đau khổ của Đức Giêsu cũng như của chính Mẹ Maria, và từ đó cùng với Con mình, Mẹ Maria bước vào cách mãnh liệt sự hiệp thông cứu chuộc, để tâm hồn nhiều người được tỏ lộ, Mẹ đồng hành với công cuộc truyền giáo của Con và kết hiệp với hy tế của Con (sosio passionis) hầu mưu cầu sự cứu rỗi cho con người. Lời của ông Simeon như một cuộc truyền tin thứ hai cho Mẹ; vì đã cho Mẹ thấy chiều kích cụ thể trong lịch sử, trong đó Con của Mẹ sẽ thực hiện sứ vụ của mình: giữa sự cứng tin và trong đau khổ. Một mặt, nếu lời loan báo này xác nhận niềm tin của Mẹ vào việc Thiên Chúa sẽ thực hiện các lời hứa, thì mặt khác cũng cho thấy Mẹ phải sống sự vâng phục đức tin trong đau khổ, bên cạnh Đấng Cứu Độ khổ đau; chức năng Từ Mẫu của Mẹ sẽ nằm trong bóng tối và sự đau xót. Đặc biệt, dưới chân thánh giá, nhờ lòng tin, Mẹ chia sẻ vào mầu hiệm kinh hoàng của sự tự hạ. Có lẽ đó là sự tự hạ (kénosis) sâu xa nhất của đức tin trong lịch sử loài người. Nhờ đức tin, Mẹ Maria tham dự vào cái chết cứu độ của Con mình; nhưng khác với đức tin của các môn đệ đang chạy trốn, đức tin của Mẹ thật chói ngời. Qua thập giá, Đức Giêsu đã chứng thực cách dứt khoát trên đồi Calvê rằng Người là “dấu hiệu bị người đời chống báng” như ông Simeon đã báo trước. Đồng thời, ở nơi đó những lời nói về Mẹ cũng thành tựu: “Phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng Bà”.

Cũng như Đức Kitô đã chấp nhận chịu thử thách đau khổ không phải do tội của Người, mà là vì gánh lấy tội thế gian, Mẹ thánh thiện đã chịu đau khổ nhiều khi dâng lên Chúa Cha sự đau khổ của Đức Kitô và sự đau khổ của chính mình như Mẹ của Đấng Cứu Thế. Mẹ thông hiệp đầy đủ vào hy tế của Con trong giai đoạn có tính cách lịch sử của nó. Sự đau khổ của Con Thiên Chúa thì vô cùng và sự đau khổ của Mẹ cũng thật lớn lao.

 

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã trở thành trẻ thơ cho người ta nâng niu và ôm ẵm. Chúa đã cảm nhận tình yêu chia sẻ của con người. Xin cho chúng con biết mở rộng vòng tay đón nhận và tôn trọng mọi người, nhất là các trẻ thơ vô tội. Xin cũng giúp chúng con biết noi gương Mẹ Maria mà cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân trần. Amen.

 

Lm. Hiền Lâm.